ki-niem-15-voaa
Thứ sáu 16/10/2026 16:27Thứ sáu 16/10/2026 16:27 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Kinh tế tuần hoàn ở ĐBSCL: Tiềm năng lớn nhưng chỉ "dám" đầu tư nhỏ

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Kinh tế tuần hoàn (KTTH) được xem là hướng đi tất yếu giúp Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu, song thực tiễn triển khai gặp nhiều rào cản, khiến doanh nghiệp chưa 'dám' đầu tư quy mô lớn.
Kinh tế tuần hoàn ở ĐBSCL: Tiềm năng lớn nhưng chỉ "dám" đầu tư nhỏ
Kinh tế tuần hoàn đối với rơm rạ - Ảnh: Văn Kim Khanh

Những mô hình KTTH thành công, thích ứng biến đổi khí hậu

Tại xã Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, mô hình KTTH từ rơm rạ của ông Huỳnh Văn Tồn là một ví dụ. Ông Tồn từng là Phó phòng Nông nghiệp huyện Lai Vung trước tháng 7.2025, do đó có nền tảng kỹ thuật và kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực nông nghiệp và kinh tế tuần hoàn. Tận dụng rơm rạ từ 1ha ruộng của gia đình và thu mua thêm từ cánh đồng Lai Vung, ông tổ chức sản xuất nấm rơm, sau đó ủ rơm cùng nấm Trichoderma và một số phụ phẩm hữu cơ khác như tro trấu, phân bò để tạo thành phân hữu cơ có hàm lượng phân động vật cao. Sản phẩm được sấy khô, đóng bao 20 - 30kg và cung cấp cho nhà vườn, người trồng hoa, nông dân trong khu vực.

Theo ông Huỳnh Văn Tồn, mô hình này chủ yếu dựa trên niềm đam mê nghề nghiệp, lấy công lao động làm lời. Dù có thu nhập ổn định, song đầu tư KTTH đòi hỏi mặt bằng lớn, chi phí vận chuyển cao nhưng lợi nhuận chưa thật sự hấp dẫn so với các lĩnh vực đầu tư khác. Đây cũng là thực tế chung của nhiều mô hình kinh tế tuần hoàn quy mô hộ gia đình tại ĐBSCL.

Tại TP.Cần Thơ, mô hình “vàng từ rơm” của Hợp tác xã Tiến Thuận cho thấy giá trị của việc biến phế phẩm nông nghiệp thành tài nguyên. Rơm rạ sau thu hoạch được thu gom để trồng nấm rơm, phần còn lại tiếp tục được ủ làm phân bón hữu cơ quay trở lại đồng ruộng. Nhờ áp dụng quy trình khép kín, chi phí phân bón hóa học giảm đến 63%, đồng thời chấm dứt tình trạng đốt rơm rạ gây ô nhiễm không khí. Bên cạnh đó, các mô hình VAC cải tiến tại Hậu Giang và Vĩnh Long, kết hợp hầm biogas, đã hình thành vòng tuần hoàn khép kín về năng lượng, phân bón và thức ăn chăn nuôi, góp phần giảm phát thải và nâng cao hiệu quả kinh tế hộ.

Ở quy mô doanh nghiệp, Công ty CP IDI là một trong những đơn vị tiên phong triển khai KTTH trong chế biến cá tra. Ông Lê Văn Cảnh, Phó tổng giám đốc Công ty CP IDI, cho biết cá tra phi lê được xuất khẩu, trong khi các phần còn lại của con cá đều được tận dụng tối đa. Mỡ cá được xử lý, chưng cất để sản xuất dầu ăn cao cấp xuất khẩu; da cá tra được bán cho đối tác châu Âu để chế biến các sản phẩm từ collagen; đầu và xương cá dùng làm nguyên liệu sản xuất thức ăn gia súc và thủy sản. Bùn thải từ hoạt động chế biến được công ty xử lý và tận dụng làm phân bón cho cây trồng. Với hệ thống xử lý đồng bộ này, giá trị gia tăng từ cá tra được nâng lên đáng kể, đồng thời bảo đảm yêu cầu an toàn môi trường trong chế biến xuất khẩu.

Tương tự, chuỗi giá trị cá tra của Công ty cổ phần Vĩnh Hoàn tại Đồng Tháp là minh chứng rõ nét cho KTTH ở quy mô lớn. Thay vì chỉ tập trung xuất khẩu phi lê, doanh nghiệp đã tận dụng gần như 100% con cá tra. Da cá được chiết xuất collagen và gelatin; mỡ cá chế biến thành dầu ăn, dầu cá và biodiesel; xương, vây và nội tạng dùng sản xuất bột cá; bùn thải được xử lý thành phân bón hữu cơ. Cách làm này vừa gia tăng giá trị kinh tế, vừa giảm thiểu ô nhiễm môi trường sông nước.

ĐBSCL được xem là “mỏ vàng” của KTTH nhờ nguồn phụ phẩm nông nghiệp và thủy sản dồi dào. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, xâm nhập mặn gia tăng, tài nguyên suy giảm và áp lực môi trường lớn, nhiều mô hình KTTH đã chứng minh hiệu quả rõ rệt, góp phần nâng cao thu nhập và thúc đẩy phát triển bền vững.

Tiêu biểu là mô hình lúa - tôm, thường được ví bằng hình ảnh “con tôm ôm cây lúa”, phổ biến tại Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang. Mô hình vận hành theo quy luật tự nhiên: mùa mưa trồng lúa nước ngọt, mùa khô khi nước mặn xâm nhập thì chuyển sang nuôi tôm. Tính tuần hoàn thể hiện rõ khi cây lúa hấp thụ chất thải từ tôm, giúp làm sạch môi trường nước, trong khi rơm rạ sau thu hoạch phân hủy tự nhiên, tạo nguồn thức ăn và môi trường sống cho tôm. Nhờ không sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón hóa học, mô hình này giảm hoàn toàn hóa chất đầu vào và mang lại lợi nhuận cao gấp hai đến ba lần so với độc canh cây lúa.

Kinh tế tuần hoàn ở ĐBSCL: Tiềm năng lớn nhưng chỉ "dám" đầu tư nhỏ
Nghề trồng hoa đang hấp thụ rất lớn lượng phân bón từ rơm rạ - Ảnh: Trung Phạm

Tiềm năng lớn nhưng doanh nghiệp vẫn e dè đầu tư

Dù có nhiều mô hình thành công, KTTH ở ĐBSCL hiện vẫn chủ yếu phát triển ở quy mô hộ gia đình, hợp tác xã hoặc một số ít doanh nghiệp tiên phong. Nguyên nhân đầu tiên là chi phí thu gom và vận chuyển phụ phẩm còn cao. Sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, phân tán, trong khi hạ tầng logistics và giao thông nội vùng chưa đồng bộ, khiến chi phí vận chuyển chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành.

Bên cạnh đó, KTTH đòi hỏi vốn đầu tư và công nghệ cao. Việc biến rơm rạ thành vật liệu sinh học hay vỏ tôm thành chitin, chitosan cần dây chuyền hiện đại, chi phí lớn, thời gian thu hồi vốn dài và tiềm ẩn rủi ro công nghệ. Đây là rào cản đáng kể đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Thị trường đầu ra cũng là một điểm nghẽn. Sản phẩm từ kinh tế tuần hoàn thường có giá thành cao hơn sản phẩm truyền thống, trong khi người tiêu dùng trong nước vẫn ưu tiên giá rẻ. Ngược lại, các thị trường xuất khẩu như EU và Mỹ đặt ra yêu cầu khắt khe về chứng chỉ xanh, truy xuất nguồn gốc và phát thải, gây khó khăn cho doanh nghiệp khi mở rộng quy mô.

Ngoài ra, hành lang pháp lý cho KTTH chưa thực sự đồng bộ. Nhiều loại phụ phẩm vẫn bị xem là chất thải, dẫn đến thủ tục vận chuyển và xử lý phức tạp. Các chính sách ưu đãi về tín dụng xanh, thuế và đất đai dù đã được đề cập nhưng chưa đủ mạnh để tạo động lực đầu tư dài hạn.

Giải pháp thúc đẩy KTTH ở ĐBSCL phát triển bền vững

Ông Lê Thanh Tùng, Tổng thư ký Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam, cho rằng để KTTH ở ĐBSCL phát triển đúng tiềm năng, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, cần tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung, gắn với hợp tác xã và vùng nguyên liệu lớn nhằm giảm chi phí thu gom và tạo nguồn phụ phẩm ổn định. Đồng thời, đầu tư nâng cấp hạ tầng logistics, đặc biệt là giao thông thủy nội địa, đóng vai trò then chốt.

Song song đó, Nhà nước cần có chính sách tín dụng ưu đãi, quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo và cơ chế chia sẻ rủi ro công nghệ để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào KTTH. Việc tăng cường chuyển giao công nghệ, nghiên cứu – phát triển và liên kết giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học sẽ giúp nâng cao hiệu quả và giảm chi phí.

Cuối cùng, cần hoàn thiện khung pháp lý, xác định rõ phụ phẩm là tài nguyên, đồng thời phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm xanh thông qua mua sắm công bền vững và truyền thông thay đổi hành vi tiêu dùng. Khi các nút thắt này được tháo gỡ, KTTH sẽ trở thành động lực quan trọng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững và thích ứng biến đổi khí hậu của ĐBSCL.

Bài liên quan

Quất cảnh Hội An Tây hút thương lái sớm, nhà vườn trúng vụ Tết

Quất cảnh Hội An Tây hút thương lái sớm, nhà vườn trúng vụ Tết

Quất cảnh Hội An Tây vào vụ Tết, thương lái nhiều tỉnh đến xem cây, đặt cọc sớm; nhà vườn phấn khởi vì được mùa, được giá, tiêu thụ thuận lợi.
TP. Huế thúc đẩy chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn

TP. Huế thúc đẩy chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn

Năm 2025, ngành nông nghiệp - môi trường TP. Huế chủ động ứng phó thiên tai, dịch bệnh; duy trì tăng trưởng, thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ, công nghệ cao...
Rộn ràng mùa dưa hấu Tết

Rộn ràng mùa dưa hấu Tết

Những ngày cuối năm, trên các cánh đồng của xã Khánh Lâm (Cà Mau) không khí lao động trở nên rộn ràng khi bà con nông dân tất bật chăm sóc ruộng dưa hấu phục vụ thị trường Tết. Dù từ nay tới Tết Nguyên đán vẫn còn hơn 1 tháng, nhưng những ruộng dưa đã xanh tốt, báo hiệu một vụ mùa nhiều kỳ vọng với bà con.
Hải Phòng cụ thể hóa tầm nhìn bằng giải pháp công nghệ đột phá

Hải Phòng cụ thể hóa tầm nhìn bằng giải pháp công nghệ đột phá

Chương trình hợp tác này nằm trong khuôn khổ Diễn đàn Chuyển đổi số thành phố Hải Phòng năm 2026 (diễn ra ngày 8/10/2026) với chủ đề "Dữ liệu - AI - Tự động hóa: Động lực chiến lược cho phát triển kinh tế số và đô thị thông minh". Tại diễn đàn, Sở Khoa học và Công nghệ Hải Phòng cùng Công ty TNHH Starlink Services Việt Nam đã ký kết hợp tác, trực tiếp giao nhận các thiết bị đầu cuối cùng gói dịch vụ Internet vệ tinh hiện đại.
Nắng nóng, thiếu mưa đe dọa mùa khô 2026-2027

Nắng nóng, thiếu mưa đe dọa mùa khô 2026-2027

El Nino dự báo duy trì cường độ mạnh đến rất mạnh, khiến nhiệt độ tăng cao, lượng mưa thiếu hụt tại nhiều khu vực, gia tăng nguy cơ hạn hán mùa khô 2026-2027.
Phát triển công nghệ, nâng tầm giá trị ngành nấm Việt Nam

Phát triển công nghệ, nâng tầm giá trị ngành nấm Việt Nam

Ngành nấm Việt Nam đẩy mạnh chọn tạo giống chất lượng cao, ứng dụng công nghệ sinh học, chế biến sâu, hướng tới sản xuất công nghiệp, xanh và bền vững.
Kết nối tri thức, hành động vì mục tiêu Net Zero năm 2050

Kết nối tri thức, hành động vì mục tiêu Net Zero năm 2050

Hội thảo COP26 kết nối cơ quan quản lý, đại học và sinh viên, thúc đẩy ứng phó biến đổi khí hậu, lan tỏa trách nhiệm cộng đồng, phát triển xanh và Net Zero 2050
Cà phê Sơn La: Nâng tầm Arabica từ canh tác sinh thái

Cà phê Sơn La: Nâng tầm Arabica từ canh tác sinh thái

Từ vùng nguyên liệu Arabica lớn nhất cả nước, Sơn La đang đặt ra yêu cầu phát triển cà phê gắn với bảo vệ hệ sinh thái, nâng chất lượng và gia tăng giá trị. Hội thảo ngày 11/10/2026 đã làm rõ những việc cần triển khai, từ giống, canh tác hữu cơ, chuyển đổi số đến chế biến sâu và liên kết thị trường.
Phòng, chống thiên tai từ cơ sở - Nông dân phường Thuận An phát huy vai trò chủ thể

Phòng, chống thiên tai từ cơ sở - Nông dân phường Thuận An phát huy vai trò chủ thể

Phường Thuận An (Tp. Huế) ra mắt mô hình nông dân phòng, chống thiên tai, nâng cao trách nhiệm cộng đồng, chủ động thích ứng biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường

CÁC TIN BÀI KHÁC

Kết nối tri thức, hành động vì mục tiêu Net Zero năm 2050

Kết nối tri thức, hành động vì mục tiêu Net Zero năm 2050

Hội thảo COP26 kết nối cơ quan quản lý, đại học và sinh viên, thúc đẩy ứng phó biến đổi khí hậu, lan tỏa trách nhiệm cộng đồng, phát triển xanh và Net Zero 2050
Cà phê Sơn La: Nâng tầm Arabica từ canh tác sinh thái

Cà phê Sơn La: Nâng tầm Arabica từ canh tác sinh thái

Từ vùng nguyên liệu Arabica lớn nhất cả nước, Sơn La đang đặt ra yêu cầu phát triển cà phê gắn với bảo vệ hệ sinh thái, nâng chất lượng và gia tăng giá trị. Hội thảo ngày 11/10/2026 đã làm rõ những việc cần triển khai, từ giống, canh tác hữu cơ, chuyển đổi số đến chế biến sâu và liên kết thị trường.
Kết nối nghiên cứu ứng dụng cơ giới hóa thông minh và công nghệ xanh, nâng cao giá trị nông sản

Kết nối nghiên cứu ứng dụng cơ giới hóa thông minh và công nghệ xanh, nâng cao giá trị nông sản

ĐH Nông Lâm, ĐH Huế kết nối nghiên cứu ứng dụng, cơ giới hóa thông minh và công nghệ xanh, nâng cao giá trị nông sản, sử dụng hiệu quả tài nguyên...
Đưa khoa học nông nghiệp từ phòng thí nghiệm ra đồng ruộng

Đưa khoa học nông nghiệp từ phòng thí nghiệm ra đồng ruộng

Từ kết quả nghiên cứu đến ứng dụng trong sản xuất vẫn còn khoảng cách đáng kể. Thu hẹp khoảng cách ấy không chỉ đòi hỏi công nghệ tiên tiến, mà còn cần cơ chế phù hợp, sự tham gia của doanh nghiệp và người nông dân, cùng những giải pháp bảo đảm hiệu quả kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Làm thế nào khơi thông nguồn lực để phát triển nông nghiệp?

Làm thế nào khơi thông nguồn lực để phát triển nông nghiệp?

Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn chuyển đổi quan trọng. Từ nền sản xuất dựa nhiều vào đất đai, lao động và kinh nghiệm truyền thống, ngành nông nghiệp đang từng bước chuyển sang mô hình dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, liên kết chuỗi và kinh tế xanh. Trong quá trình đó, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực trở thành yếu tố quyết định để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam.
Ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất nông nghiệp hữu cơ và giải pháp phát triển bền vững

Ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất nông nghiệp hữu cơ và giải pháp phát triển bền vững

Nông nghiệp hữu cơ đối mặt nhiều thách thức về chi phí giám sát, rủi ro dịch bệnh và tính minh bạch. Việc ứng dụng công nghệ số như IoT, AI, Blockchain, Big Data và UAV tạo ra bước ngoặt giúp tối ưu hóa quản lý, kiểm soát tiêu chuẩn nghiêm ngặt và công khai chuỗi giá trị. Bài viết phân tích thực trạng, hạ tầng công nghệ, tác động kinh tế - sinh thái, rào cản cốt lõi và đề xuất giải pháp phát triển bền vững.
Nước tưới hoạt hóa bằng khoáng chất và ánh sáng mặt trời giúp năng suất cây trồng tăng tới hơn 100%

Nước tưới hoạt hóa bằng khoáng chất và ánh sáng mặt trời giúp năng suất cây trồng tăng tới hơn 100%

Các thử nghiệm đồng ruộng quy mô lớn trải dài từ Hắc Long Giang đến Hải Nam cho thấy nước tưới được xử lý bằng khoáng chất tự nhiên hoạt hóa dưới ánh nắng có thể nâng năng suất lúa tới 40,6%, mía 45,7% và khoai lang 109,5%, theo nhóm nhà khoa học thuộc Đại học Bắc Kinh.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 3: Từ nhận thức đến hành động

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 3: Từ nhận thức đến hành động

Chuyển đổi hệ thống lương thực – thực phẩm không thể thành công nếu chỉ trông chờ vào một chính sách, một ngành, một doanh nghiệp hay một nhóm người. Việt Nam đã có Kế hoạch hành động quốc gia theo Quyết định 300/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhưng trong quá trình thực hiện vẫn gặp những khó khăn về nguồn lực, hướng dẫn, dữ liệu và năng lực của các bên. Điều quan trọng lúc này là biến mục tiêu lớn thành những việc cụ thể, để Nhà nước, địa phương, người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học, truyền thông và người tiêu dùng cùng tạo ra thay đổi. Chuyển đổi chỉ thực sự xảy ra khi mỗi mắt xích nhận rõ trách nhiệm và cùng hành động.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 2: Từ cánh đồng đến thị trường

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 2: Từ cánh đồng đến thị trường

Một nền nông nghiệp có thể tạo ra hàng triệu tấn lương thực, thực phẩm mỗi năm nhưng vẫn còn những điểm nghẽn trên hành trình từ cánh đồng đến bàn ăn. Người sản xuất có thể làm ra sản phẩm nhưng chưa chắc có thị trường ổn định, doanh nghiệp có thể có đơn hàng nhưng chưa chắc có vùng nguyên liệu bền vững, sản phẩm có chất lượng nhưng vẫn có thể mất giá trị nếu bảo quản, chế biến và logistics chưa đáp ứng. Vì vậy, bài toán của hệ thống lương thực - thực phẩm không chỉ là “sản xuất được bao nhiêu”, mà còn là sản xuất như thế nào, kết nối ra sao và giá trị được tạo ra, phân bổ như thế nào trong toàn chuỗi.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 1: Từ bàn ăn nhìn ra cả hệ thống

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 1: Từ bàn ăn nhìn ra cả hệ thống

Mỗi ngày, một bữa cơm gia đình bắt đầu từ những điều rất quen thuộc: Hạt gạo, bó rau, con cá, quả trứng hay miếng thịt. Nhưng để những thực phẩm ấy xuất hiện trên bàn ăn là cả một hành trình dài, với sự tham gia của người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học, cơ quan quản lý, hệ thống phân phối và chính người tiêu dùng. Phía sau mỗi món ăn còn là đất, nước, lao động, công nghệ, thị trường, chính sách và môi trường. Hiểu được hành trình ấy chính là bước đầu tiên để mỗi người nhận ra mình đang ở đâu và có thể làm gì để cùng xây dựng một hệ thống lương thực - thực phẩm minh bạch, trách nhiệm và bền vững.
Khả năng hấp thụ carbon của hệ thống nông nghiệp hữu cơ

Khả năng hấp thụ carbon của hệ thống nông nghiệp hữu cơ

Nông nghiệp hữu cơ đang mở ra hướng tiếp cận mới trong ứng phó biến đổi khí hậu khi không chỉ giảm phụ thuộc vào vật tư hóa học mà còn góp phần gia tăng carbon trong đất. Thông qua đa dạng hóa cây trồng, sử dụng phân hữu cơ, cây che phủ, luân canh và giảm làm đất, hệ thống này có thể nâng cao khả năng lưu giữ carbon, cải thiện sức khỏe đất và phát triển nông nghiệp bền vững.
Phát triển nông nghiệp sinh thái: Từ mô hình riêng lẻ đến chuyển đổi cả hệ thống

Phát triển nông nghiệp sinh thái: Từ mô hình riêng lẻ đến chuyển đổi cả hệ thống

Chuyển đổi sang nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn cần được thực hiện đồng bộ từ tổ chức sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ đến liên kết thị trường và chia sẻ lợi ích. Tại hội thảo khoa học tổ chức ngày 30/9 ở Ninh Bình, các nhà quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và hợp tác xã nhấn mạnh yêu cầu để người nông dân được hưởng lợi xứng đáng từ những giá trị sinh thái mà họ tạo ra.
XEM THÊM
phu-my
cuoc-thi-viet
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính