Thứ sáu 09/01/2026 22:10Thứ sáu 09/01/2026 22:10 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Kinh tế tuần hoàn ở ĐBSCL: Tiềm năng lớn nhưng chỉ "dám" đầu tư nhỏ

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Kinh tế tuần hoàn (KTTH) được xem là hướng đi tất yếu giúp Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu, song thực tiễn triển khai gặp nhiều rào cản, khiến doanh nghiệp chưa 'dám' đầu tư quy mô lớn.
Kinh tế tuần hoàn ở ĐBSCL: Tiềm năng lớn nhưng chỉ "dám" đầu tư nhỏ
Kinh tế tuần hoàn đối với rơm rạ - Ảnh: Văn Kim Khanh

Những mô hình KTTH thành công, thích ứng biến đổi khí hậu

Tại xã Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, mô hình KTTH từ rơm rạ của ông Huỳnh Văn Tồn là một ví dụ. Ông Tồn từng là Phó phòng Nông nghiệp huyện Lai Vung trước tháng 7.2025, do đó có nền tảng kỹ thuật và kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực nông nghiệp và kinh tế tuần hoàn. Tận dụng rơm rạ từ 1ha ruộng của gia đình và thu mua thêm từ cánh đồng Lai Vung, ông tổ chức sản xuất nấm rơm, sau đó ủ rơm cùng nấm Trichoderma và một số phụ phẩm hữu cơ khác như tro trấu, phân bò để tạo thành phân hữu cơ có hàm lượng phân động vật cao. Sản phẩm được sấy khô, đóng bao 20 - 30kg và cung cấp cho nhà vườn, người trồng hoa, nông dân trong khu vực.

Theo ông Huỳnh Văn Tồn, mô hình này chủ yếu dựa trên niềm đam mê nghề nghiệp, lấy công lao động làm lời. Dù có thu nhập ổn định, song đầu tư KTTH đòi hỏi mặt bằng lớn, chi phí vận chuyển cao nhưng lợi nhuận chưa thật sự hấp dẫn so với các lĩnh vực đầu tư khác. Đây cũng là thực tế chung của nhiều mô hình kinh tế tuần hoàn quy mô hộ gia đình tại ĐBSCL.

Tại TP.Cần Thơ, mô hình “vàng từ rơm” của Hợp tác xã Tiến Thuận cho thấy giá trị của việc biến phế phẩm nông nghiệp thành tài nguyên. Rơm rạ sau thu hoạch được thu gom để trồng nấm rơm, phần còn lại tiếp tục được ủ làm phân bón hữu cơ quay trở lại đồng ruộng. Nhờ áp dụng quy trình khép kín, chi phí phân bón hóa học giảm đến 63%, đồng thời chấm dứt tình trạng đốt rơm rạ gây ô nhiễm không khí. Bên cạnh đó, các mô hình VAC cải tiến tại Hậu Giang và Vĩnh Long, kết hợp hầm biogas, đã hình thành vòng tuần hoàn khép kín về năng lượng, phân bón và thức ăn chăn nuôi, góp phần giảm phát thải và nâng cao hiệu quả kinh tế hộ.

Ở quy mô doanh nghiệp, Công ty CP IDI là một trong những đơn vị tiên phong triển khai KTTH trong chế biến cá tra. Ông Lê Văn Cảnh, Phó tổng giám đốc Công ty CP IDI, cho biết cá tra phi lê được xuất khẩu, trong khi các phần còn lại của con cá đều được tận dụng tối đa. Mỡ cá được xử lý, chưng cất để sản xuất dầu ăn cao cấp xuất khẩu; da cá tra được bán cho đối tác châu Âu để chế biến các sản phẩm từ collagen; đầu và xương cá dùng làm nguyên liệu sản xuất thức ăn gia súc và thủy sản. Bùn thải từ hoạt động chế biến được công ty xử lý và tận dụng làm phân bón cho cây trồng. Với hệ thống xử lý đồng bộ này, giá trị gia tăng từ cá tra được nâng lên đáng kể, đồng thời bảo đảm yêu cầu an toàn môi trường trong chế biến xuất khẩu.

Tương tự, chuỗi giá trị cá tra của Công ty cổ phần Vĩnh Hoàn tại Đồng Tháp là minh chứng rõ nét cho KTTH ở quy mô lớn. Thay vì chỉ tập trung xuất khẩu phi lê, doanh nghiệp đã tận dụng gần như 100% con cá tra. Da cá được chiết xuất collagen và gelatin; mỡ cá chế biến thành dầu ăn, dầu cá và biodiesel; xương, vây và nội tạng dùng sản xuất bột cá; bùn thải được xử lý thành phân bón hữu cơ. Cách làm này vừa gia tăng giá trị kinh tế, vừa giảm thiểu ô nhiễm môi trường sông nước.

ĐBSCL được xem là “mỏ vàng” của KTTH nhờ nguồn phụ phẩm nông nghiệp và thủy sản dồi dào. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, xâm nhập mặn gia tăng, tài nguyên suy giảm và áp lực môi trường lớn, nhiều mô hình KTTH đã chứng minh hiệu quả rõ rệt, góp phần nâng cao thu nhập và thúc đẩy phát triển bền vững.

Tiêu biểu là mô hình lúa - tôm, thường được ví bằng hình ảnh “con tôm ôm cây lúa”, phổ biến tại Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang. Mô hình vận hành theo quy luật tự nhiên: mùa mưa trồng lúa nước ngọt, mùa khô khi nước mặn xâm nhập thì chuyển sang nuôi tôm. Tính tuần hoàn thể hiện rõ khi cây lúa hấp thụ chất thải từ tôm, giúp làm sạch môi trường nước, trong khi rơm rạ sau thu hoạch phân hủy tự nhiên, tạo nguồn thức ăn và môi trường sống cho tôm. Nhờ không sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón hóa học, mô hình này giảm hoàn toàn hóa chất đầu vào và mang lại lợi nhuận cao gấp hai đến ba lần so với độc canh cây lúa.

Kinh tế tuần hoàn ở ĐBSCL: Tiềm năng lớn nhưng chỉ "dám" đầu tư nhỏ
Nghề trồng hoa đang hấp thụ rất lớn lượng phân bón từ rơm rạ - Ảnh: Trung Phạm

Tiềm năng lớn nhưng doanh nghiệp vẫn e dè đầu tư

Dù có nhiều mô hình thành công, KTTH ở ĐBSCL hiện vẫn chủ yếu phát triển ở quy mô hộ gia đình, hợp tác xã hoặc một số ít doanh nghiệp tiên phong. Nguyên nhân đầu tiên là chi phí thu gom và vận chuyển phụ phẩm còn cao. Sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, phân tán, trong khi hạ tầng logistics và giao thông nội vùng chưa đồng bộ, khiến chi phí vận chuyển chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành.

Bên cạnh đó, KTTH đòi hỏi vốn đầu tư và công nghệ cao. Việc biến rơm rạ thành vật liệu sinh học hay vỏ tôm thành chitin, chitosan cần dây chuyền hiện đại, chi phí lớn, thời gian thu hồi vốn dài và tiềm ẩn rủi ro công nghệ. Đây là rào cản đáng kể đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Thị trường đầu ra cũng là một điểm nghẽn. Sản phẩm từ kinh tế tuần hoàn thường có giá thành cao hơn sản phẩm truyền thống, trong khi người tiêu dùng trong nước vẫn ưu tiên giá rẻ. Ngược lại, các thị trường xuất khẩu như EU và Mỹ đặt ra yêu cầu khắt khe về chứng chỉ xanh, truy xuất nguồn gốc và phát thải, gây khó khăn cho doanh nghiệp khi mở rộng quy mô.

Ngoài ra, hành lang pháp lý cho KTTH chưa thực sự đồng bộ. Nhiều loại phụ phẩm vẫn bị xem là chất thải, dẫn đến thủ tục vận chuyển và xử lý phức tạp. Các chính sách ưu đãi về tín dụng xanh, thuế và đất đai dù đã được đề cập nhưng chưa đủ mạnh để tạo động lực đầu tư dài hạn.

Giải pháp thúc đẩy KTTH ở ĐBSCL phát triển bền vững

Ông Lê Thanh Tùng, Tổng thư ký Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam, cho rằng để KTTH ở ĐBSCL phát triển đúng tiềm năng, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, cần tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung, gắn với hợp tác xã và vùng nguyên liệu lớn nhằm giảm chi phí thu gom và tạo nguồn phụ phẩm ổn định. Đồng thời, đầu tư nâng cấp hạ tầng logistics, đặc biệt là giao thông thủy nội địa, đóng vai trò then chốt.

Song song đó, Nhà nước cần có chính sách tín dụng ưu đãi, quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo và cơ chế chia sẻ rủi ro công nghệ để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào KTTH. Việc tăng cường chuyển giao công nghệ, nghiên cứu – phát triển và liên kết giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học sẽ giúp nâng cao hiệu quả và giảm chi phí.

Cuối cùng, cần hoàn thiện khung pháp lý, xác định rõ phụ phẩm là tài nguyên, đồng thời phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm xanh thông qua mua sắm công bền vững và truyền thông thay đổi hành vi tiêu dùng. Khi các nút thắt này được tháo gỡ, KTTH sẽ trở thành động lực quan trọng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững và thích ứng biến đổi khí hậu của ĐBSCL.

Bài liên quan

Quất cảnh Hội An Tây hút thương lái sớm, nhà vườn trúng vụ Tết

Quất cảnh Hội An Tây hút thương lái sớm, nhà vườn trúng vụ Tết

Quất cảnh Hội An Tây vào vụ Tết, thương lái nhiều tỉnh đến xem cây, đặt cọc sớm; nhà vườn phấn khởi vì được mùa, được giá, tiêu thụ thuận lợi.
TP. Huế thúc đẩy chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn

TP. Huế thúc đẩy chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn

Năm 2025, ngành nông nghiệp - môi trường TP. Huế chủ động ứng phó thiên tai, dịch bệnh; duy trì tăng trưởng, thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ, công nghệ cao...
Rộn ràng mùa dưa hấu Tết

Rộn ràng mùa dưa hấu Tết

Những ngày cuối năm, trên các cánh đồng của xã Khánh Lâm (Cà Mau) không khí lao động trở nên rộn ràng khi bà con nông dân tất bật chăm sóc ruộng dưa hấu phục vụ thị trường Tết. Dù từ nay tới Tết Nguyên đán vẫn còn hơn 1 tháng, nhưng những ruộng dưa đã xanh tốt, báo hiệu một vụ mùa nhiều kỳ vọng với bà con.
Sản xuất nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu

Sản xuất nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu

Tại Thái Nguyên, sản xuất nông nghiệp đang dần chuyển theo hướng tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải và phát triển bền vững.
Định hình tương lai đa dạng sinh học - Bài 3: "Giải bài toán" bảo tồn động vật hoang dã tại Việt Nam?

Định hình tương lai đa dạng sinh học - Bài 3: "Giải bài toán" bảo tồn động vật hoang dã tại Việt Nam?

Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cấp bách phải tìm lời giải cho bài toán bảo tồn động vật hoang dã, trong bối cảnh suy giảm đa dạng sinh học đã chạm ngưỡng cảnh báo. Những chương trình, kế hoạch và cơ chế phối hợp đang từng bước được triển khai được xem như nền tảng để xử lý thách thức bảo tồn hiện nay.
Nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường

Nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường

Trong bối cảnh ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu ngày càng tác động sâu rộng tới phát triển kinh tế - xã hội, yêu cầu nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trở nên cấp thiết. Nghị quyết số 247/2025/QH15 về “Tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường” của Quốc hội được ban hành như một bước chuyển mạnh từ hoàn thiện thể chế sang hành động quyết liệt trong thực tiễn.
Hà Nội tăng cường công tác quản lý đê điều trong phòng, chống thiên tai

Hà Nội tăng cường công tác quản lý đê điều trong phòng, chống thiên tai

UBND thành phố Hà Nội vừa ban hành quyết định về việc ủy quyền cho Sở Nông nghiệp và Môi trường giải quyết một số thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý đê điều và phòng, chống thiên tai. Nhằm tăng tính chủ động, rút ngắn thời gian, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trên địa bàn.
Giải pháp ứng dụng công nghệ cao cho sản xuất nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu

Giải pháp ứng dụng công nghệ cao cho sản xuất nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu

Theo các chuyên gia, ĐBSCL là vựa lúa lớn nhất cả nước, tuy nhiên quá trình sản xuất chịu nhiều tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH), hạn hán, xâm nhập mặn… Phát triển sản xuất bền vững, ứng dụng công nghệ cao thích ứng BĐKH là giải pháp cần triển khai thực hiện trong thời gian tới, vừa góp phần nâng cao giá trị lúa gạo, vừa giúp nông dân duy trì và tăng sản lượng, tăng lợi nhuận trong sản xuất...
Định hình tương lai đa dạng sinh học - Bài 2: “Báo động đỏ” về động vật hoang dã tại Việt Nam

Định hình tương lai đa dạng sinh học - Bài 2: “Báo động đỏ” về động vật hoang dã tại Việt Nam

Trong khi thế giới đang nỗ lực kiềm chế đà suy giảm đa dạng sinh học, Việt Nam cũng đang bước vào giai đoạn báo động đỏ với tốc độ suy giảm loài diễn ra nhanh và nghiêm trọng, xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Đồng thời, công tác bảo tồn động vật hoang dã trong nước dù có những thuận lợi nhất định vẫn phải đối mặt với hàng loạt thách thức lớn, đòi hỏi cách tiếp cận toàn diện và bền vững hơn.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam cần thu hẹp khoảng cách với "sân chơi" toàn cầu

Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam cần thu hẹp khoảng cách với "sân chơi" toàn cầu

Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam đang có tốc độ phát triển sản xuất nhanh hơn so với bình quân của thế giới. Thế nhưng, quy mô sản xuất theo hướng an toàn và bền vững này của Việt Nam vẫn rất nhỏ so với thế giới.
Nông nghiệp và Môi trường: Bản lĩnh vượt thách thức, giữ vững trụ đỡ phát triển bền vững

Nông nghiệp và Môi trường: Bản lĩnh vượt thách thức, giữ vững trụ đỡ phát triển bền vững

Năm 2025, dù bối cảnh thế giới nhiều biến động, kinh tế phục hồi chậm và biến đổi khí hậu ngày càng khốc liệt, ngành nông nghiệp và môi trường (NN&MT) Việt Nam vẫn khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế, góp phần ổn định vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội.
Thị trường hữu cơ hướng tới mốc nghìn tỷ USD - cơ hội cho Việt Nam

Thị trường hữu cơ hướng tới mốc nghìn tỷ USD - cơ hội cho Việt Nam

Dự báo giai đoạn 2025 - 2034 cho thấy thị trường thực phẩm hữu cơ toàn cầu có thể đạt 1,05 nghìn tỷ USD vào năm 2034. Tại Việt Nam, sản xuất hữu cơ đã mở rộng trên 174.000ha với 17.200 chủ thể tham gia và gần 600 cơ sở chế biến; nhiều địa phương như Nghệ An, Hải Phòng đang cụ thể hóa mục tiêu bằng đề án, lộ trình và định hướng mở rộng vùng sản xuất theo lợi thế sinh thái.
Những dấu ấn của Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam năm 2025

Những dấu ấn của Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam năm 2025

Năm 2025 đánh dấu thời điểm bản lề của nông nghiệp hữu cơ Việt Nam, khi giai đoạn đầu thực hiện Quyết định 885/QĐ-TTg khép lại với các mục tiêu về quy mô, tiêu chuẩn và tổ chức sản xuất được kiểm chứng rõ nét trong thực tiễn. Những chuyển biến về chính sách, thể chế và thị trường cũng như những sự kiện quan trọng trong năm cho thấy nông nghiệp hữu cơ Việt Nam đang tăng tốc mạnh mẽ để bước vào giai đoạn phát triển có định hướng và hội nhập sâu rộng hơn.
Thương hiệu bưởi Soi Hà: Hành trình nông sản Tuyên Quang vươn tầm thế giới

Thương hiệu bưởi Soi Hà: Hành trình nông sản Tuyên Quang vươn tầm thế giới

Vùng bưởi Soi Hà từ lâu đã được biết đến là một trong những đặc sản nổi tiếng của tỉnh Tuyên Quang, gắn liền với tên tuổi thôn Soi Hà nằm bên dòng sông Gâm hiền hòa, thuộc xã Xuân Vân.
Ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp - trụ cột cho tăng trưởng bền vững

Ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp - trụ cột cho tăng trưởng bền vững

Trong bối cảnh nông nghiệp Việt Nam đang chịu tác động kép từ hội nhập sâu rộng, biến đổi khí hậu và thu hẹp nguồn lực sản xuất, việc ứng dụng công nghệ cao không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu. Từ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến thực tiễn triển khai tại doanh nghiệp, hợp tác xã và người nông dân, khoa học - công nghệ đang từng bước khẳng định vai trò là trụ cột cho tăng trưởng bền vững, nâng cao giá trị và năng lực cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn mới.
Duy trì cân đối sản xuất chế biến và tiêu thụ chính là xanh hóa nền kinh tế

Duy trì cân đối sản xuất chế biến và tiêu thụ chính là xanh hóa nền kinh tế

Sản xuất, chế biến và tiêu thụ là những khái niệm cơ bản, không thể tách rời trong bất kỳ nền kinh tế nào. Chúng giống như hai mạch máu chính, liên tục bơm và nhận máu để duy trì sự sống của một cơ thể. Sự tương tác phức tạp và năng động giữa chúng không chỉ định hình các chuỗi cung ứng toàn cầu mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển xã hội, công nghệ và môi trường.
An toàn sinh học - "tấm lá chắn" giảm rủi ro dịch bệnh và hướng tới chăn nuôi bền vững

An toàn sinh học - "tấm lá chắn" giảm rủi ro dịch bệnh và hướng tới chăn nuôi bền vững

Trong chăn nuôi, dịch bệnh có thể cuốn trôi lợi nhuận chỉ sau vài ngày, kéo theo thiệt hại về vốn, lao động và cả niềm tin thị trường. Vì vậy, an toàn sinh học không chỉ là quy định trên giấy tờ, mà là hệ thống vận hành bắt buộc: kiểm soát từ “cửa ngõ” trang trại, phân vùng, khử trùng liên tục và kỷ luật thực thi của con người. Thông điệp này được nhấn mạnh tại chương trình tất niên và tri ân khách hàng do Công ty Thành Đô tổ chức.
Trồng nấm bí quyết cải tạo đất tự nhiên, sạch và bền vững

Trồng nấm bí quyết cải tạo đất tự nhiên, sạch và bền vững

Ít ai nghĩ rằng thứ mọc lên từ gốc gỗ mục hay lá rụng lại có thể thay đổi cả hệ sinh thái đất. Nấm không chỉ là thực phẩm, mà còn là một công cụ cải tạo đất tự nhiên: phân hủy vật liệu hữu cơ, nuôi dưỡng vi sinh, làm tơi đất và thậm chí hấp thu độc tố. Thêm nấm vào vườn và mảnh đất của bạn có thể “hồi sinh” theo cách bất ngờ.
Chỉnh sửa gen tạo giống lúa giàu vi chất, giảm kim loại nặng

Chỉnh sửa gen tạo giống lúa giàu vi chất, giảm kim loại nặng

Nhóm nghiên cứu do TS. Lê Quỳnh Mai chủ trì đã ứng dụng công nghệ chỉnh sửa gen CRISPR/Cas9 để nâng cao hàm lượng sắt, kẽm và giảm tích lũy cadmium trong hạt lúa. Kết quả mở ra triển vọng phát triển các giống lúa giàu vi chất, an toàn cho sức khỏe và đáp ứng yêu cầu an ninh lương thực bền vững.
Nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường

Nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường

Trong bối cảnh ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu ngày càng tác động sâu rộng tới phát triển kinh tế - xã hội, yêu cầu nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trở nên cấp thiết. Nghị quyết số 247/2025/QH15 về “Tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường” của Quốc hội được ban hành như một bước chuyển mạnh từ hoàn thiện thể chế sang hành động quyết liệt trong thực tiễn.
Không để đất “kiệt sức” sau mùa vụ: Giải pháp cải tạo đất cho nông nghiệp xanh

Không để đất “kiệt sức” sau mùa vụ: Giải pháp cải tạo đất cho nông nghiệp xanh

Sau mỗi mùa thu hoạch, thay vì để đất “nghỉ đông” một cách thụ động, nhiều nông hộ hữu cơ lựa chọn cải tạo đất như một bước đầu tư dài hạn. Bổ sung vật liệu hữu cơ, phục hồi cấu trúc và hệ vi sinh không chỉ giúp đất tái tạo tự nhiên mà còn đặt nền móng cho năng suất ổn định, tiết kiệm tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính