![]() |
| Kinh tế tuần hoàn đối với rơm rạ - Ảnh: Văn Kim Khanh |
Những mô hình KTTH thành công, thích ứng biến đổi khí hậu
Tại xã Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, mô hình KTTH từ rơm rạ của ông Huỳnh Văn Tồn là một ví dụ. Ông Tồn từng là Phó phòng Nông nghiệp huyện Lai Vung trước tháng 7.2025, do đó có nền tảng kỹ thuật và kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực nông nghiệp và kinh tế tuần hoàn. Tận dụng rơm rạ từ 1ha ruộng của gia đình và thu mua thêm từ cánh đồng Lai Vung, ông tổ chức sản xuất nấm rơm, sau đó ủ rơm cùng nấm Trichoderma và một số phụ phẩm hữu cơ khác như tro trấu, phân bò để tạo thành phân hữu cơ có hàm lượng phân động vật cao. Sản phẩm được sấy khô, đóng bao 20 - 30kg và cung cấp cho nhà vườn, người trồng hoa, nông dân trong khu vực.
Theo ông Huỳnh Văn Tồn, mô hình này chủ yếu dựa trên niềm đam mê nghề nghiệp, lấy công lao động làm lời. Dù có thu nhập ổn định, song đầu tư KTTH đòi hỏi mặt bằng lớn, chi phí vận chuyển cao nhưng lợi nhuận chưa thật sự hấp dẫn so với các lĩnh vực đầu tư khác. Đây cũng là thực tế chung của nhiều mô hình kinh tế tuần hoàn quy mô hộ gia đình tại ĐBSCL.
Tại TP.Cần Thơ, mô hình “vàng từ rơm” của Hợp tác xã Tiến Thuận cho thấy giá trị của việc biến phế phẩm nông nghiệp thành tài nguyên. Rơm rạ sau thu hoạch được thu gom để trồng nấm rơm, phần còn lại tiếp tục được ủ làm phân bón hữu cơ quay trở lại đồng ruộng. Nhờ áp dụng quy trình khép kín, chi phí phân bón hóa học giảm đến 63%, đồng thời chấm dứt tình trạng đốt rơm rạ gây ô nhiễm không khí. Bên cạnh đó, các mô hình VAC cải tiến tại Hậu Giang và Vĩnh Long, kết hợp hầm biogas, đã hình thành vòng tuần hoàn khép kín về năng lượng, phân bón và thức ăn chăn nuôi, góp phần giảm phát thải và nâng cao hiệu quả kinh tế hộ.
Ở quy mô doanh nghiệp, Công ty CP IDI là một trong những đơn vị tiên phong triển khai KTTH trong chế biến cá tra. Ông Lê Văn Cảnh, Phó tổng giám đốc Công ty CP IDI, cho biết cá tra phi lê được xuất khẩu, trong khi các phần còn lại của con cá đều được tận dụng tối đa. Mỡ cá được xử lý, chưng cất để sản xuất dầu ăn cao cấp xuất khẩu; da cá tra được bán cho đối tác châu Âu để chế biến các sản phẩm từ collagen; đầu và xương cá dùng làm nguyên liệu sản xuất thức ăn gia súc và thủy sản. Bùn thải từ hoạt động chế biến được công ty xử lý và tận dụng làm phân bón cho cây trồng. Với hệ thống xử lý đồng bộ này, giá trị gia tăng từ cá tra được nâng lên đáng kể, đồng thời bảo đảm yêu cầu an toàn môi trường trong chế biến xuất khẩu.
Tương tự, chuỗi giá trị cá tra của Công ty cổ phần Vĩnh Hoàn tại Đồng Tháp là minh chứng rõ nét cho KTTH ở quy mô lớn. Thay vì chỉ tập trung xuất khẩu phi lê, doanh nghiệp đã tận dụng gần như 100% con cá tra. Da cá được chiết xuất collagen và gelatin; mỡ cá chế biến thành dầu ăn, dầu cá và biodiesel; xương, vây và nội tạng dùng sản xuất bột cá; bùn thải được xử lý thành phân bón hữu cơ. Cách làm này vừa gia tăng giá trị kinh tế, vừa giảm thiểu ô nhiễm môi trường sông nước.
ĐBSCL được xem là “mỏ vàng” của KTTH nhờ nguồn phụ phẩm nông nghiệp và thủy sản dồi dào. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, xâm nhập mặn gia tăng, tài nguyên suy giảm và áp lực môi trường lớn, nhiều mô hình KTTH đã chứng minh hiệu quả rõ rệt, góp phần nâng cao thu nhập và thúc đẩy phát triển bền vững.
Tiêu biểu là mô hình lúa - tôm, thường được ví bằng hình ảnh “con tôm ôm cây lúa”, phổ biến tại Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang. Mô hình vận hành theo quy luật tự nhiên: mùa mưa trồng lúa nước ngọt, mùa khô khi nước mặn xâm nhập thì chuyển sang nuôi tôm. Tính tuần hoàn thể hiện rõ khi cây lúa hấp thụ chất thải từ tôm, giúp làm sạch môi trường nước, trong khi rơm rạ sau thu hoạch phân hủy tự nhiên, tạo nguồn thức ăn và môi trường sống cho tôm. Nhờ không sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón hóa học, mô hình này giảm hoàn toàn hóa chất đầu vào và mang lại lợi nhuận cao gấp hai đến ba lần so với độc canh cây lúa.
![]() |
| Nghề trồng hoa đang hấp thụ rất lớn lượng phân bón từ rơm rạ - Ảnh: Trung Phạm |
Tiềm năng lớn nhưng doanh nghiệp vẫn e dè đầu tư
Dù có nhiều mô hình thành công, KTTH ở ĐBSCL hiện vẫn chủ yếu phát triển ở quy mô hộ gia đình, hợp tác xã hoặc một số ít doanh nghiệp tiên phong. Nguyên nhân đầu tiên là chi phí thu gom và vận chuyển phụ phẩm còn cao. Sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, phân tán, trong khi hạ tầng logistics và giao thông nội vùng chưa đồng bộ, khiến chi phí vận chuyển chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành.
Bên cạnh đó, KTTH đòi hỏi vốn đầu tư và công nghệ cao. Việc biến rơm rạ thành vật liệu sinh học hay vỏ tôm thành chitin, chitosan cần dây chuyền hiện đại, chi phí lớn, thời gian thu hồi vốn dài và tiềm ẩn rủi ro công nghệ. Đây là rào cản đáng kể đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thị trường đầu ra cũng là một điểm nghẽn. Sản phẩm từ kinh tế tuần hoàn thường có giá thành cao hơn sản phẩm truyền thống, trong khi người tiêu dùng trong nước vẫn ưu tiên giá rẻ. Ngược lại, các thị trường xuất khẩu như EU và Mỹ đặt ra yêu cầu khắt khe về chứng chỉ xanh, truy xuất nguồn gốc và phát thải, gây khó khăn cho doanh nghiệp khi mở rộng quy mô.
Ngoài ra, hành lang pháp lý cho KTTH chưa thực sự đồng bộ. Nhiều loại phụ phẩm vẫn bị xem là chất thải, dẫn đến thủ tục vận chuyển và xử lý phức tạp. Các chính sách ưu đãi về tín dụng xanh, thuế và đất đai dù đã được đề cập nhưng chưa đủ mạnh để tạo động lực đầu tư dài hạn.
Giải pháp thúc đẩy KTTH ở ĐBSCL phát triển bền vững
Ông Lê Thanh Tùng, Tổng thư ký Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam, cho rằng để KTTH ở ĐBSCL phát triển đúng tiềm năng, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, cần tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung, gắn với hợp tác xã và vùng nguyên liệu lớn nhằm giảm chi phí thu gom và tạo nguồn phụ phẩm ổn định. Đồng thời, đầu tư nâng cấp hạ tầng logistics, đặc biệt là giao thông thủy nội địa, đóng vai trò then chốt.
Song song đó, Nhà nước cần có chính sách tín dụng ưu đãi, quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo và cơ chế chia sẻ rủi ro công nghệ để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào KTTH. Việc tăng cường chuyển giao công nghệ, nghiên cứu – phát triển và liên kết giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học sẽ giúp nâng cao hiệu quả và giảm chi phí.
Cuối cùng, cần hoàn thiện khung pháp lý, xác định rõ phụ phẩm là tài nguyên, đồng thời phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm xanh thông qua mua sắm công bền vững và truyền thông thay đổi hành vi tiêu dùng. Khi các nút thắt này được tháo gỡ, KTTH sẽ trở thành động lực quan trọng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững và thích ứng biến đổi khí hậu của ĐBSCL.