ki-niem-15-voaa
Thứ tư 16/09/2026 06:47Thứ tư 16/09/2026 06:47 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Chống sa mạc hóa tại Việt Nam - Bài 2: Triển khai chính sách dựa trên thực tiễn vùng và điều kiện phát triển

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Trong bối cảnh Việt Nam chịu tác động ngày càng gia tăng của biến đổi khí hậu và suy thoái đất, chống sa mạc hóa đòi hỏi một cách tiếp cận chính sách dựa trên điều kiện cụ thể của từng vùng nhằm bảo đảm hiệu quả bảo vệ tài nguyên đất gắn với phát triển bền vững và ổn định sinh kế.
Chống sa mạc hóa tại Việt Nam - Bài 2: Triển khai chính sách dựa trên thực tiễn vùng và điều kiện phát triển
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Quyết định số 5930/QĐ-BNNMT, chính thức phê duyệt Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Quyết định số 5930/QĐ-BNNMT, chính thức phê duyệt Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, đánh dấu bước tiến quan trọng trong hoàn thiện khung chính sách ứng phó với suy thoái đất tại Việt Nam.

Chương trình vừa thể hiện trách nhiệm của Việt Nam trong thực hiện Công ước Liên Hợp quốc về chống sa mạc hóa và các cam kết quốc tế liên quan, vừa khẳng định quyết tâm của Nhà nước trong bảo tồn thiên nhiên, sử dụng bền vững tài nguyên đất, rừng và nước, gắn bảo vệ môi trường với ổn định sinh kế, nâng cao thu nhập và xóa đói, giảm nghèo bền vững cho người dân, đặc biệt tại các khu vực dễ bị tổn thương.

Khác với cách tiếp cận rời rạc trước đây, Chương trình xác lập một khuôn khổ hành động tổng thể và dài hạn, kết nối phòng ngừa, giám sát và phục hồi đất đai với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và thích ứng với biến đổi khí hậu. Thông qua việc lồng ghép khoa học – dữ liệu, quản lý rủi ro và phối hợp liên ngành, Chương trình hướng tới nâng cao hiệu quả quản lý suy thoái đất trên phạm vi toàn quốc, góp phần thực hiện các Mục tiêu Phát triển bền vững (SDGs) và tiếp tục khẳng định vai trò, trách nhiệm của Việt Nam trong nỗ lực toàn cầu chống sa mạc hóa.

Mục tiêu của Chương trình

Về mục tiêu đến năm 2030, Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa tập trung xây dựng nền tảng quản lý rủi ro dài hạn thông qua điều tra, đánh giá, khoanh vùng và định vị các khu vực đất bị sa mạc hóa trên phạm vi cả nước và theo từng vùng kinh tế - xã hội, gắn với mức độ và nguyên nhân suy thoái.

Trên cơ sở đó, chương trình tăng cường hệ thống khí tượng thủy văn nhằm nâng cao năng lực giám sát, dự báo và cảnh báo sớm các rủi ro khô hạn, thoái hóa đất. Đồng thời, các quy hoạch quản lý vùng chịu ảnh hưởng được xây dựng theo hướng thích ứng, sử dụng bền vững đất và nước, với các chỉ tiêu trọng tâm như ổn định 3,5 triệu ha đất trồng lúa, duy trì độ che phủ rừng 42–43%, nâng cao chất lượng rừng và bảo tồn đất ngập nước.

Về dài hạn đến năm 2050, chương trình đặt mục tiêu kiểm soát diện tích đất bị thoái hóa không vượt quá 40% diện tích đất tự nhiên, trong đó đất thoái hóa nặng có nguy cơ sa mạc hóa cao không vượt quá 4,5%, nhằm ngăn chặn suy giảm chất lượng đất và các tác động lan tỏa đến sản xuất, tài nguyên nước và ổn định dân cư.

Song song với mục tiêu môi trường, chương trình gắn chặt kiểm soát thoái hóa đất với phát triển sinh kế, định hướng thu nhập của người dân tại các khu vực bị ảnh hưởng đạt tối thiểu 50% mức bình quân cả nước, qua đó thể hiện cách tiếp cận tích hợp giữa bảo vệ tài nguyên đất, giảm nghèo và phát triển bền vững.

Chống sa mạc hóa tại Việt Nam - Bài 2: Triển khai chính sách dựa trên thực tiễn vùng và điều kiện phát triển
Cách tiếp cận dựa trên thực tiễn vùng được xem là yêu cầu cốt lõi trong chính sách chống sa mạc hóa tại Việt Nam.

Chính sách chống sa mạc hóa trong tiếp cận dựa trên thực tiễn vùng

Cách tiếp cận dựa trên thực tiễn vùng được xem là yêu cầu cốt lõi trong chính sách chống sa mạc hóa tại Việt Nam, xuất phát từ thực tế rằng thoái hóa đất không diễn ra đồng đều trên phạm vi cả nước. Mỗi vùng sinh thái chịu tác động khác nhau của điều kiện tự nhiên, cấu trúc địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng cũng như lịch sử và phương thức sử dụng đất. Sự khác biệt này khiến các dạng thoái hóa đất, từ xói mòn, rửa trôi, khô hạn đến mặn hóa, phèn hóa - có tính chất, mức độ và tốc độ diễn biến không giống nhau giữa các vùng.

Bên cạnh yếu tố tự nhiên, thoái hóa đất còn chịu chi phối mạnh bởi trình độ phát triển kinh tế - xã hội và năng lực quản lý ở từng địa phương. Ở những khu vực phụ thuộc lớn vào nông, lâm nghiệp truyền thống, sinh kế của người dân gắn chặt với tài nguyên đất, trong khi khả năng tiếp cận công nghệ, vốn và thông tin còn hạn chế, khiến nguy cơ suy thoái đất và tái nghèo gia tăng. Ngược lại, tại các vùng đồng bằng và ven biển, áp lực phát triển kinh tế, đô thị hóa và thâm canh nông nghiệp lại làm trầm trọng thêm các vấn đề như mặn hóa, phèn hóa và suy giảm chất lượng đất canh tác.

Trong bối cảnh đó, việc áp dụng một khuôn mẫu chính sách chung cho mọi vùng tiềm ẩn nguy cơ “lệch pha” giữa giải pháp và thực tiễn, dẫn đến hiệu quả can thiệp thấp và lãng phí nguồn lực. Các biện pháp kỹ thuật hoặc mô hình sản xuất nếu không phù hợp với điều kiện sinh thái và tập quán canh tác địa phương có thể khó nhân rộng, thậm chí gây ra những tác động ngược ngoài mong muốn đối với môi trường và sinh kế.

Chống sa mạc hóa tại Việt Nam - Bài 2: Triển khai chính sách dựa trên thực tiễn vùng và điều kiện phát triển
Tiếp cận dựa trên thực tiễn vùng là nền tảng để lồng ghép chống sa mạc hóa một cách thực chất vào quy hoạch vùng, quy hoạch ngành và các chương trình giảm nghèo.

Phân chia chính sách theo vùng cho phép nhận diện chính xác dạng thoái hóa đất chủ đạo, làm rõ các nguyên nhân sâu xa và lựa chọn công cụ can thiệp phù hợp hơn, từ giải pháp kỹ thuật, quản lý tài nguyên đến tổ chức sản xuất và hỗ trợ sinh kế. Cách tiếp cận này cũng tạo điều kiện gắn kết mục tiêu chống sa mạc hóa với phát triển kinh tế địa phương, bảo đảm rằng bảo vệ đất đai không tách rời nhu cầu mưu sinh và nâng cao thu nhập của người dân.

Quan trọng hơn, tiếp cận dựa trên thực tiễn vùng là nền tảng để lồng ghép chống sa mạc hóa một cách thực chất vào quy hoạch vùng, quy hoạch ngành và các chương trình giảm nghèo. Thay vì triển khai các dự án rời rạc, chống sa mạc hóa được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả quản trị tài nguyên đất, tăng khả năng chống chịu của sinh kế nông thôn và thúc đẩy phát triển bền vững theo chiều sâu.

Đối với vùng Trung du và miền núi phía Bắc, trọng tâm chính sách là kiểm soát xói mòn, rửa trôi trên đất dốc và từng bước phục hồi độ phì nhiêu của đất. Các giải pháp ưu tiên bao gồm canh tác theo đường đồng mức, nông – lâm kết hợp, tăng che phủ đất bằng cây lâu năm và thảm thực vật bản địa, đồng thời cải thiện quản lý đất nương rẫy. Cách tiếp cận này không chỉ nhằm giữ đất và nước mà còn hướng tới ổn định sinh kế cho các cộng đồng dân tộc thiểu số, giảm áp lực mở rộng canh tác lên rừng tự nhiên.

Chống sa mạc hóa tại Việt Nam - Bài 2: Triển khai chính sách dựa trên thực tiễn vùng và điều kiện phát triển
Các tỉnh Bắc Trung Bộ ưu tiên các giải pháp phục hồi đất suy giảm độ phì, đất khô hạn thông qua phủ xanh đất trống, đồi núi trọc.

Tại vùng Bắc Trung Bộ, nơi chịu tác động kép của khô hạn, đất nghèo dinh dưỡng và lịch sử khai thác đất thiếu bền vững, chính sách ưu tiên phục hồi độ phì và giảm nguy cơ khô hạn kéo dài. Phủ xanh đất trống, đồi núi trọc bằng các loài cây phù hợp sinh thái, kết hợp cải thiện hệ thống tưới tiết kiệm nước và chuyển đổi cơ cấu cây trồng là các giải pháp then chốt. Những can thiệp này giúp nâng cao khả năng giữ nước của đất, giảm tổn thương trước biến đổi khí hậu và tạo nền tảng cho sinh kế bền vững tại các khu vực thường xuyên nghèo đói.

Đối với vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, chính sách chống sa mạc hóa tập trung vào thích ứng với điều kiện khô hạn và suy giảm độ phì đất. Trọng tâm là phát triển các mô hình canh tác thông minh với khí hậu, sử dụng giống cây chịu hạn, tiết kiệm nước, đồng thời tăng cường che phủ rừng và hệ thống nông – lâm kết hợp để hạn chế bốc hơi và thoái hóa đất. Việc kiểm soát thoái hóa đất ở các vùng này có ý nghĩa đặc biệt trong bảo vệ nguồn nước đầu nguồn, duy trì sinh kế nông nghiệp và hạn chế di cư do suy giảm tài nguyên.

Trong khi đó, vùng Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long đối mặt chủ yếu với mặn hóa và phèn hóa đất gắn với biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn và thay đổi dòng chảy. Chính sách ưu tiên kiểm soát mặn, cải tạo đất phèn, vận hành linh hoạt và liên vùng các hệ thống thủy lợi, đồng thời điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất theo hướng thích ứng. Các giải pháp này nhằm bảo vệ quỹ đất sản xuất trọng yếu, bảo đảm an ninh lương thực và duy trì sinh kế cho khu vực có mật độ dân cư cao nhất cả nước.

Điểm xuyên suốt trong tiếp cận theo vùng là việc đặt mục tiêu đất song hành với mục tiêu sinh kế. Kiểm soát và phục hồi đất thoái hóa không được xem là mục tiêu kỹ thuật đơn thuần, mà là công cụ để ổn định dân cư, giảm nghèo và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. Việc xác định ngưỡng thu nhập cho người dân sống tại các khu vực chịu ảnh hưởng của sa mạc hóa cho thấy định hướng rõ ràng: chống sa mạc hóa chỉ thực sự bền vững khi gắn chặt với cải thiện đời sống và mở rộng cơ hội phát triển cho các cộng đồng dễ bị tổn thương nhất.

Chống sa mạc hóa tại Việt Nam - Bài 2: Triển khai chính sách dựa trên thực tiễn vùng và điều kiện phát triển
Chống sa mạc hóa gắn với quản lý bền vững đất đai và tài nguyên.

Các trụ cột hành động

Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa giai đoạn đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 được thiết kế theo một khung giải pháp tổng thể, dựa trên bốn trụ cột xuyên suốt nhằm bảo đảm tính hệ thống, liên ngành và khả năng triển khai dài hạn.

Trụ cột khoa học, công nghệ và dữ liệu đóng vai trò nền tảng, tập trung vào điều tra, giám sát, xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống dự báo, cảnh báo sớm, qua đó cung cấp bằng chứng khoa học cho hoạch định chính sách và quản lý rủi ro đất đai.

Trụ cột canh tác thông minh và phục hồi đất hướng tới điều chỉnh mô hình sử dụng đất phù hợp với điều kiện sinh thái, thúc đẩy các phương thức sản xuất thích ứng với khô hạn, xâm nhập mặn và suy thoái đất, đồng thời phục hồi chức năng sinh học và năng suất dài hạn của đất.

Trụ cột nâng cao năng lực và truyền thông tập trung tăng cường năng lực cho chính quyền địa phương, cộng đồng và người sản xuất, gắn với nâng cao nhận thức xã hội về phòng, chống sa mạc hóa như một vấn đề phát triển bền vững, không chỉ thuần túy môi trường.

Trụ cột chính sách và hợp tác quốc tế nhằm hoàn thiện khung thể chế, lồng ghép mục tiêu chống sa mạc hóa vào các chiến lược phát triển ngành và vùng, đồng thời huy động nguồn lực, tri thức và kinh nghiệm quốc tế trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hội nhập sâu rộng.

Chống sa mạc hóa tại Việt Nam - Bài 2: Triển khai chính sách dựa trên thực tiễn vùng và điều kiện phát triển
Khoa học, công nghệ và dữ liệu cũng là một trụ cột nền tảng trong các giải pháp chống sa mạc hóa.

Tổ chức thực hiện

Về tổ chức thực hiện, Bộ Nông nghiệp và Môi trường giữ vai trò cơ quan đầu mối, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương triển khai chương trình theo lộ trình, lồng ghép kiểm soát thoái hóa đất vào quy hoạch sử dụng đất, tài nguyên nước và lâm nghiệp. Cách tiếp cận này nhằm bảo đảm mục tiêu chống sa mạc hóa được thực hiện thống nhất, gắn với bố trí nguồn lực và kế hoạch phát triển dài hạn.

Cơ chế điều phối được tăng cường thông qua Ban Điều phối quốc gia thực hiện Công ước chống sa mạc hóa, đóng vai trò kết nối kỹ thuật, liên ngành và hợp tác quốc tế. Ở cấp địa phương, các tỉnh, thành phố chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phù hợp với điều kiện sinh thái và mức độ thoái hóa đất, tích hợp trực tiếp vào quy hoạch phát triển, thay vì triển khai rời rạc theo dự án.

Về nguồn lực, ngân sách nhà nước được xác định là nền tảng, đồng thời mở rộng huy động xã hội hóa, hợp tác công - tư và hỗ trợ quốc tế. Qua đó, mục tiêu kiểm soát đất thoái hóa không chỉ mang tính định hướng mà trở thành cam kết quản lý tài nguyên đất ở tầm quốc gia, tạo nền tảng cho an ninh lương thực, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững trong dài hạn.

Chống sa mạc hóa tại Việt Nam - Bài 1: Đòn bẩy xóa đói giảm nghèo bền vững Chống sa mạc hóa tại Việt Nam - Bài 1: Đòn bẩy xóa đói giảm nghèo bền vững

Sa mạc hóa không còn là câu chuyện của những vùng đất xa xôi, mà đang hiện hữu ngay trong quá trình phát triển của ...

Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa: Góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa: Góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững

Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 khoanh vùng và định vị các khu vực đất bị sa mạc hóa toàn quốc và theo ...

Lâm Đồng triển khai đồng bộ Chương trình hành động chống sa mạc hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2050 Lâm Đồng triển khai đồng bộ Chương trình hành động chống sa mạc hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2050

UBND tỉnh Lâm Đồng vừa ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình hành động chống sa mạc hóa giai đoạn đến năm ...

Bài liên quan

Lễ hội Thanh trà Huế 2026 - Từ “vị ngọt tiến vua” đến kinh tế xanh

Lễ hội Thanh trà Huế 2026 - Từ “vị ngọt tiến vua” đến kinh tế xanh

Khi nông nghiệp được kết nối với du lịch cộng đồng, văn hóa và dịch vụ, mỗi khu vườn sẽ tạo ra sản phẩm nông nghiệp và sẽ trở thành những không gian trải nghiệm
Hưng Yên phấn đấu cơ bản không còn hộ nghèo, hoàn thành xóa nhà tạm trong năm 2026

Hưng Yên phấn đấu cơ bản không còn hộ nghèo, hoàn thành xóa nhà tạm trong năm 2026

Hưng Yên đặt mục tiêu cơ bản không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều vào cuối năm 2026, đồng thời hoàn thành hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho 100% hộ đủ điều kiện. Theo rà soát, toàn tỉnh hiện còn 10.335 hộ nghèo và dự kiến hỗ trợ 1.677 hộ xây mới hoặc sửa chữa nhà ở.
Cầu nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng trong nền kinh tế xanh

Cầu nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng trong nền kinh tế xanh

Trong tiến trình chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh và xây dựng chuỗi cung ứng bền vững đang trở thành xu thế tất yếu, mô hình hợp tác xã tiêu dùng ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong việc kết nối người sản xuất với người tiêu dùng. Tại thành phố Đà Nẵng - trung tâm kinh tế, thương mại và dịch vụ của khu vực miền Trung, Hợp tác xã tiêu dùng đã chính thức ra mắt không chỉ góp phần ổn định thị trường mà còn thúc đẩy tiêu dùng văn minh, minh bạch và hướng tới phát triển bền vững.
Liên kết vùng để kiến tạo hệ sinh thái nông nghiệp thông minh, kinh tế xanh

Liên kết vùng để kiến tạo hệ sinh thái nông nghiệp thông minh, kinh tế xanh

Liên kết lợi thế của Hà Nội, Bắc Ninh và Hưng Yên trong một chuỗi giá trị thống nhất được xác định là hướng đi quan trọng để mở rộng không gian phát triển nông nghiệp. Từ quy hoạch vùng nguyên liệu, hạ tầng dữ liệu, logistics lạnh, chế biến sâu đến phân phối hiện đại và thương mại điện tử xuyên biên giới, vấn đề đặt ra là phải chuyển những cam kết liên kết thành chương trình hành động có đầu mối, nguồn lực và sản phẩm cụ thể.
Hoàn thiện hệ thống tiêu chí OCOP: Nâng cao giá trị và khai thác hiệu quả kinh tế nông thôn

Hoàn thiện hệ thống tiêu chí OCOP: Nâng cao giá trị và khai thác hiệu quả kinh tế nông thôn

Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) tiếp tục ghi nhận kết quả tích cực khi đến hết tháng 6/2026, cả nước có 21.028 sản phẩm đạt từ 3 sao trở lên, tăng 1.986 sản phẩm so với cuối năm 2025. Cùng với đà tăng về số lượng, bộ tiêu chí OCOP mới được ban hành được kỳ vọng tạo động lực nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và gia tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm địa phương.
Tuyên Quang phát triển công nghệ sinh học, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp phát thải thấp

Tuyên Quang phát triển công nghệ sinh học, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp phát thải thấp

Tuyên Quang đặt mục tiêu phát triển mạnh công nghệ sinh học đến năm 2030, thúc đẩy nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế xanh, chuyển đổi số và nâng cao giá trị sản phẩm.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Gấu Millie và hành trình hồi sinh từ “chiếc hộp thời gian”

Gấu Millie và hành trình hồi sinh từ “chiếc hộp thời gian”

Bảo tồn còn là thay đổi nhận thức, tạo dựng sự đồng thuận và mở ra cơ hội để những cá thể từng bị nuôi nhốt được chăm sóc trong môi trường nhân đạo, an toàn...
Đắk Lắk quyết liệt thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, khắc phục hậu quả cho thiên tai

Đắk Lắk quyết liệt thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, khắc phục hậu quả cho thiên tai

Đắk Lắk yêu cầu các sở, ngành, địa phương tập trung tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, vốn khắc phục hậu quả thiên tai và các chương trình mục tiêu quốc gia. Chủ tịch UBND tỉnh Đỗ Hữu Huy yêu cầu xác định rõ trách nhiệm, tiến độ và kết quả thực tế đối với từng dự án.
Quản lý tài nguyên nước cộng đồng - Nền tảng sinh kế bền vững tại xã A Lưới 4

Quản lý tài nguyên nước cộng đồng - Nền tảng sinh kế bền vững tại xã A Lưới 4

Dự án Phát triển Nông nghiệp và Thủy sản dựa trên Lưu vực Cộng đồng đang góp phần nâng cao nhận thức, kỹ năng quản lý tài nguyên nước, hướng tới sử dụng...
Lực lượng Kiểm Lâm Tp. Huế kịp thời ngăn chặn bẫy bắt chim, cò trên đồng ruộng

Lực lượng Kiểm Lâm Tp. Huế kịp thời ngăn chặn bẫy bắt chim, cò trên đồng ruộng

Tăng cường tuần tra, tháo dỡ các điểm bẫy bắt chim, cò đang góp phần bảo vệ đa dạng sinh học, giữ gìn hệ sinh thái đồng ruộng và hướng tới nền nông nghiệp xanh
Chủ động ứng phó mưa lớn, bảo đảm an toàn công trình thủy lợi

Chủ động ứng phó mưa lớn, bảo đảm an toàn công trình thủy lợi

Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi đề nghị các địa phương, đơn vị quản lý công trình thủy lợi chủ động triển khai phương án ứng phó với mưa lớn, phòng ngừa ngập lụt, bảo đảm an toàn hồ đập và nguồn nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt.
Huế tiếp tục có mưa vừa, mưa to, có nơi mưa rất to - Người dân cần chủ động phòng tránh

Huế tiếp tục có mưa vừa, mưa to, có nơi mưa rất to - Người dân cần chủ động phòng tránh

Đợt mưa lớn trên địa bàn thành phố Huế được dự báo tiếp tục kéo dài trong những ngày tới, với cường độ mạnh tập trung từ ngày 12 đến 14/9/2026...
Lâm Đồng nhận diện nhiều “điểm nóng” có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường

Lâm Đồng nhận diện nhiều “điểm nóng” có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường

Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng vừa rà soát, tổng hợp các cơ sở, dự án, khu vực có nguồn thải lớn hoặc nguy cơ xảy ra điểm nóng, sự cố và ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh. Qua đánh giá, một số khu vực đang chịu áp lực môi trường lớn, trong đó có những nơi tình trạng phản ánh của người dân kéo dài hoặc nguy cơ phát sinh sự cố cao.
Đắk Lắk điều tiết nước hồ Ea Súp, cảnh báo người dân vùng hạ du chủ động phòng tránh lũ

Đắk Lắk điều tiết nước hồ Ea Súp, cảnh báo người dân vùng hạ du chủ động phòng tránh lũ

Chi nhánh Thủy lợi Ea Súp sẽ điều tiết nước qua tràn hồ Ea Súp Hạ từ chiều 9/9 và hồ Ea Súp Thượng từ sáng 10/9, nhằm hạ thấp mực nước, tăng khả năng chứa lũ. Người dân vùng hạ du, nhất là khu vực thềm suối Ea Súp và ngầm Tày, được cảnh báo chủ động phòng tránh.
Chủ động từ cơ sở, nâng cao năng lực ứng phó thiên tai ở Huế

Chủ động từ cơ sở, nâng cao năng lực ứng phó thiên tai ở Huế

Trước yêu cầu chủ động ứng phó thiên tai, nhất là mưa lũ, ngập lụt và tình trạng địa bàn bị chia cắt, Tp. Huế chú trọng xây dựng lực lượng phòng thủ dân sự...
Đắk Lắk khẩn trương bảo đảm an toàn hồ Ea Tir, chủ động ứng phó nguy cơ mưa lũ khẩn cấp

Đắk Lắk khẩn trương bảo đảm an toàn hồ Ea Tir, chủ động ứng phó nguy cơ mưa lũ khẩn cấp

Trước tình huống khẩn cấp về thiên tai do mưa lớn, lũ tại hồ Ea Tir, Công ty TNHH MTV Quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk đề nghị UBND xã Ea Knuếc phối hợp triển khai các giải pháp bảo đảm an toàn công trình và người dân vùng hạ du. Các lực lượng được yêu cầu chủ động phương án ứng phó, sẵn sàng sơ tán người dân khi xảy ra tình huống nguy hiểm.
Đắk Lắk cảnh báo nguy cơ lũ quét, sạt lở đất tại 30 khu vực trong 6 giờ tới khi mưa lớn

Đắk Lắk cảnh báo nguy cơ lũ quét, sạt lở đất tại 30 khu vực trong 6 giờ tới khi mưa lớn

Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh Đắk Lắk cảnh báo trong 6 giờ tới, nhiều khu vực trên địa bàn tiếp tục có mưa, nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất và sụt lún đất ở mức đáng lưu ý. Người dân cần chủ động theo dõi diễn biến thời tiết, đặc biệt tại các khu vực ven sông, suối, vùng núi, đồi dốc và nơi có nền đất yếu.
Tổ chức tập huấn “Kiểm soát nhiễm khuẩn và An toàn vệ sinh lao động cho nhân viên vệ sinh”

Tổ chức tập huấn “Kiểm soát nhiễm khuẩn và An toàn vệ sinh lao động cho nhân viên vệ sinh”

Ngày 8/9/2026, Bệnh viện Trung ương Huế (BVTW Huế) khai giảng khóa tập huấn “Kiểm soát nhiễm khuẩn và An toàn vệ sinh lao động cho nhân viên vệ sinh”...
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính