ki-niem-15-voaa
Chủ nhật 26/07/2026 09:53Chủ nhật 26/07/2026 09:53 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Chống sa mạc hóa tại Việt Nam - Bài 2: Triển khai chính sách dựa trên thực tiễn vùng và điều kiện phát triển

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Trong bối cảnh Việt Nam chịu tác động ngày càng gia tăng của biến đổi khí hậu và suy thoái đất, chống sa mạc hóa đòi hỏi một cách tiếp cận chính sách dựa trên điều kiện cụ thể của từng vùng nhằm bảo đảm hiệu quả bảo vệ tài nguyên đất gắn với phát triển bền vững và ổn định sinh kế.
Chống sa mạc hóa tại Việt Nam - Bài 2: Triển khai chính sách dựa trên thực tiễn vùng và điều kiện phát triển
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Quyết định số 5930/QĐ-BNNMT, chính thức phê duyệt Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Quyết định số 5930/QĐ-BNNMT, chính thức phê duyệt Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, đánh dấu bước tiến quan trọng trong hoàn thiện khung chính sách ứng phó với suy thoái đất tại Việt Nam.

Chương trình vừa thể hiện trách nhiệm của Việt Nam trong thực hiện Công ước Liên Hợp quốc về chống sa mạc hóa và các cam kết quốc tế liên quan, vừa khẳng định quyết tâm của Nhà nước trong bảo tồn thiên nhiên, sử dụng bền vững tài nguyên đất, rừng và nước, gắn bảo vệ môi trường với ổn định sinh kế, nâng cao thu nhập và xóa đói, giảm nghèo bền vững cho người dân, đặc biệt tại các khu vực dễ bị tổn thương.

Khác với cách tiếp cận rời rạc trước đây, Chương trình xác lập một khuôn khổ hành động tổng thể và dài hạn, kết nối phòng ngừa, giám sát và phục hồi đất đai với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và thích ứng với biến đổi khí hậu. Thông qua việc lồng ghép khoa học – dữ liệu, quản lý rủi ro và phối hợp liên ngành, Chương trình hướng tới nâng cao hiệu quả quản lý suy thoái đất trên phạm vi toàn quốc, góp phần thực hiện các Mục tiêu Phát triển bền vững (SDGs) và tiếp tục khẳng định vai trò, trách nhiệm của Việt Nam trong nỗ lực toàn cầu chống sa mạc hóa.

Mục tiêu của Chương trình

Về mục tiêu đến năm 2030, Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa tập trung xây dựng nền tảng quản lý rủi ro dài hạn thông qua điều tra, đánh giá, khoanh vùng và định vị các khu vực đất bị sa mạc hóa trên phạm vi cả nước và theo từng vùng kinh tế - xã hội, gắn với mức độ và nguyên nhân suy thoái.

Trên cơ sở đó, chương trình tăng cường hệ thống khí tượng thủy văn nhằm nâng cao năng lực giám sát, dự báo và cảnh báo sớm các rủi ro khô hạn, thoái hóa đất. Đồng thời, các quy hoạch quản lý vùng chịu ảnh hưởng được xây dựng theo hướng thích ứng, sử dụng bền vững đất và nước, với các chỉ tiêu trọng tâm như ổn định 3,5 triệu ha đất trồng lúa, duy trì độ che phủ rừng 42–43%, nâng cao chất lượng rừng và bảo tồn đất ngập nước.

Về dài hạn đến năm 2050, chương trình đặt mục tiêu kiểm soát diện tích đất bị thoái hóa không vượt quá 40% diện tích đất tự nhiên, trong đó đất thoái hóa nặng có nguy cơ sa mạc hóa cao không vượt quá 4,5%, nhằm ngăn chặn suy giảm chất lượng đất và các tác động lan tỏa đến sản xuất, tài nguyên nước và ổn định dân cư.

Song song với mục tiêu môi trường, chương trình gắn chặt kiểm soát thoái hóa đất với phát triển sinh kế, định hướng thu nhập của người dân tại các khu vực bị ảnh hưởng đạt tối thiểu 50% mức bình quân cả nước, qua đó thể hiện cách tiếp cận tích hợp giữa bảo vệ tài nguyên đất, giảm nghèo và phát triển bền vững.

Chống sa mạc hóa tại Việt Nam - Bài 2: Triển khai chính sách dựa trên thực tiễn vùng và điều kiện phát triển
Cách tiếp cận dựa trên thực tiễn vùng được xem là yêu cầu cốt lõi trong chính sách chống sa mạc hóa tại Việt Nam.

Chính sách chống sa mạc hóa trong tiếp cận dựa trên thực tiễn vùng

Cách tiếp cận dựa trên thực tiễn vùng được xem là yêu cầu cốt lõi trong chính sách chống sa mạc hóa tại Việt Nam, xuất phát từ thực tế rằng thoái hóa đất không diễn ra đồng đều trên phạm vi cả nước. Mỗi vùng sinh thái chịu tác động khác nhau của điều kiện tự nhiên, cấu trúc địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng cũng như lịch sử và phương thức sử dụng đất. Sự khác biệt này khiến các dạng thoái hóa đất, từ xói mòn, rửa trôi, khô hạn đến mặn hóa, phèn hóa - có tính chất, mức độ và tốc độ diễn biến không giống nhau giữa các vùng.

Bên cạnh yếu tố tự nhiên, thoái hóa đất còn chịu chi phối mạnh bởi trình độ phát triển kinh tế - xã hội và năng lực quản lý ở từng địa phương. Ở những khu vực phụ thuộc lớn vào nông, lâm nghiệp truyền thống, sinh kế của người dân gắn chặt với tài nguyên đất, trong khi khả năng tiếp cận công nghệ, vốn và thông tin còn hạn chế, khiến nguy cơ suy thoái đất và tái nghèo gia tăng. Ngược lại, tại các vùng đồng bằng và ven biển, áp lực phát triển kinh tế, đô thị hóa và thâm canh nông nghiệp lại làm trầm trọng thêm các vấn đề như mặn hóa, phèn hóa và suy giảm chất lượng đất canh tác.

Trong bối cảnh đó, việc áp dụng một khuôn mẫu chính sách chung cho mọi vùng tiềm ẩn nguy cơ “lệch pha” giữa giải pháp và thực tiễn, dẫn đến hiệu quả can thiệp thấp và lãng phí nguồn lực. Các biện pháp kỹ thuật hoặc mô hình sản xuất nếu không phù hợp với điều kiện sinh thái và tập quán canh tác địa phương có thể khó nhân rộng, thậm chí gây ra những tác động ngược ngoài mong muốn đối với môi trường và sinh kế.

Chống sa mạc hóa tại Việt Nam - Bài 2: Triển khai chính sách dựa trên thực tiễn vùng và điều kiện phát triển
Tiếp cận dựa trên thực tiễn vùng là nền tảng để lồng ghép chống sa mạc hóa một cách thực chất vào quy hoạch vùng, quy hoạch ngành và các chương trình giảm nghèo.

Phân chia chính sách theo vùng cho phép nhận diện chính xác dạng thoái hóa đất chủ đạo, làm rõ các nguyên nhân sâu xa và lựa chọn công cụ can thiệp phù hợp hơn, từ giải pháp kỹ thuật, quản lý tài nguyên đến tổ chức sản xuất và hỗ trợ sinh kế. Cách tiếp cận này cũng tạo điều kiện gắn kết mục tiêu chống sa mạc hóa với phát triển kinh tế địa phương, bảo đảm rằng bảo vệ đất đai không tách rời nhu cầu mưu sinh và nâng cao thu nhập của người dân.

Quan trọng hơn, tiếp cận dựa trên thực tiễn vùng là nền tảng để lồng ghép chống sa mạc hóa một cách thực chất vào quy hoạch vùng, quy hoạch ngành và các chương trình giảm nghèo. Thay vì triển khai các dự án rời rạc, chống sa mạc hóa được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả quản trị tài nguyên đất, tăng khả năng chống chịu của sinh kế nông thôn và thúc đẩy phát triển bền vững theo chiều sâu.

Đối với vùng Trung du và miền núi phía Bắc, trọng tâm chính sách là kiểm soát xói mòn, rửa trôi trên đất dốc và từng bước phục hồi độ phì nhiêu của đất. Các giải pháp ưu tiên bao gồm canh tác theo đường đồng mức, nông – lâm kết hợp, tăng che phủ đất bằng cây lâu năm và thảm thực vật bản địa, đồng thời cải thiện quản lý đất nương rẫy. Cách tiếp cận này không chỉ nhằm giữ đất và nước mà còn hướng tới ổn định sinh kế cho các cộng đồng dân tộc thiểu số, giảm áp lực mở rộng canh tác lên rừng tự nhiên.

Chống sa mạc hóa tại Việt Nam - Bài 2: Triển khai chính sách dựa trên thực tiễn vùng và điều kiện phát triển
Các tỉnh Bắc Trung Bộ ưu tiên các giải pháp phục hồi đất suy giảm độ phì, đất khô hạn thông qua phủ xanh đất trống, đồi núi trọc.

Tại vùng Bắc Trung Bộ, nơi chịu tác động kép của khô hạn, đất nghèo dinh dưỡng và lịch sử khai thác đất thiếu bền vững, chính sách ưu tiên phục hồi độ phì và giảm nguy cơ khô hạn kéo dài. Phủ xanh đất trống, đồi núi trọc bằng các loài cây phù hợp sinh thái, kết hợp cải thiện hệ thống tưới tiết kiệm nước và chuyển đổi cơ cấu cây trồng là các giải pháp then chốt. Những can thiệp này giúp nâng cao khả năng giữ nước của đất, giảm tổn thương trước biến đổi khí hậu và tạo nền tảng cho sinh kế bền vững tại các khu vực thường xuyên nghèo đói.

Đối với vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, chính sách chống sa mạc hóa tập trung vào thích ứng với điều kiện khô hạn và suy giảm độ phì đất. Trọng tâm là phát triển các mô hình canh tác thông minh với khí hậu, sử dụng giống cây chịu hạn, tiết kiệm nước, đồng thời tăng cường che phủ rừng và hệ thống nông – lâm kết hợp để hạn chế bốc hơi và thoái hóa đất. Việc kiểm soát thoái hóa đất ở các vùng này có ý nghĩa đặc biệt trong bảo vệ nguồn nước đầu nguồn, duy trì sinh kế nông nghiệp và hạn chế di cư do suy giảm tài nguyên.

Trong khi đó, vùng Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long đối mặt chủ yếu với mặn hóa và phèn hóa đất gắn với biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn và thay đổi dòng chảy. Chính sách ưu tiên kiểm soát mặn, cải tạo đất phèn, vận hành linh hoạt và liên vùng các hệ thống thủy lợi, đồng thời điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất theo hướng thích ứng. Các giải pháp này nhằm bảo vệ quỹ đất sản xuất trọng yếu, bảo đảm an ninh lương thực và duy trì sinh kế cho khu vực có mật độ dân cư cao nhất cả nước.

Điểm xuyên suốt trong tiếp cận theo vùng là việc đặt mục tiêu đất song hành với mục tiêu sinh kế. Kiểm soát và phục hồi đất thoái hóa không được xem là mục tiêu kỹ thuật đơn thuần, mà là công cụ để ổn định dân cư, giảm nghèo và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. Việc xác định ngưỡng thu nhập cho người dân sống tại các khu vực chịu ảnh hưởng của sa mạc hóa cho thấy định hướng rõ ràng: chống sa mạc hóa chỉ thực sự bền vững khi gắn chặt với cải thiện đời sống và mở rộng cơ hội phát triển cho các cộng đồng dễ bị tổn thương nhất.

Chống sa mạc hóa tại Việt Nam - Bài 2: Triển khai chính sách dựa trên thực tiễn vùng và điều kiện phát triển
Chống sa mạc hóa gắn với quản lý bền vững đất đai và tài nguyên.

Các trụ cột hành động

Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa giai đoạn đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 được thiết kế theo một khung giải pháp tổng thể, dựa trên bốn trụ cột xuyên suốt nhằm bảo đảm tính hệ thống, liên ngành và khả năng triển khai dài hạn.

Trụ cột khoa học, công nghệ và dữ liệu đóng vai trò nền tảng, tập trung vào điều tra, giám sát, xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống dự báo, cảnh báo sớm, qua đó cung cấp bằng chứng khoa học cho hoạch định chính sách và quản lý rủi ro đất đai.

Trụ cột canh tác thông minh và phục hồi đất hướng tới điều chỉnh mô hình sử dụng đất phù hợp với điều kiện sinh thái, thúc đẩy các phương thức sản xuất thích ứng với khô hạn, xâm nhập mặn và suy thoái đất, đồng thời phục hồi chức năng sinh học và năng suất dài hạn của đất.

Trụ cột nâng cao năng lực và truyền thông tập trung tăng cường năng lực cho chính quyền địa phương, cộng đồng và người sản xuất, gắn với nâng cao nhận thức xã hội về phòng, chống sa mạc hóa như một vấn đề phát triển bền vững, không chỉ thuần túy môi trường.

Trụ cột chính sách và hợp tác quốc tế nhằm hoàn thiện khung thể chế, lồng ghép mục tiêu chống sa mạc hóa vào các chiến lược phát triển ngành và vùng, đồng thời huy động nguồn lực, tri thức và kinh nghiệm quốc tế trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hội nhập sâu rộng.

Chống sa mạc hóa tại Việt Nam - Bài 2: Triển khai chính sách dựa trên thực tiễn vùng và điều kiện phát triển
Khoa học, công nghệ và dữ liệu cũng là một trụ cột nền tảng trong các giải pháp chống sa mạc hóa.

Tổ chức thực hiện

Về tổ chức thực hiện, Bộ Nông nghiệp và Môi trường giữ vai trò cơ quan đầu mối, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương triển khai chương trình theo lộ trình, lồng ghép kiểm soát thoái hóa đất vào quy hoạch sử dụng đất, tài nguyên nước và lâm nghiệp. Cách tiếp cận này nhằm bảo đảm mục tiêu chống sa mạc hóa được thực hiện thống nhất, gắn với bố trí nguồn lực và kế hoạch phát triển dài hạn.

Cơ chế điều phối được tăng cường thông qua Ban Điều phối quốc gia thực hiện Công ước chống sa mạc hóa, đóng vai trò kết nối kỹ thuật, liên ngành và hợp tác quốc tế. Ở cấp địa phương, các tỉnh, thành phố chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phù hợp với điều kiện sinh thái và mức độ thoái hóa đất, tích hợp trực tiếp vào quy hoạch phát triển, thay vì triển khai rời rạc theo dự án.

Về nguồn lực, ngân sách nhà nước được xác định là nền tảng, đồng thời mở rộng huy động xã hội hóa, hợp tác công - tư và hỗ trợ quốc tế. Qua đó, mục tiêu kiểm soát đất thoái hóa không chỉ mang tính định hướng mà trở thành cam kết quản lý tài nguyên đất ở tầm quốc gia, tạo nền tảng cho an ninh lương thực, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững trong dài hạn.

Chống sa mạc hóa tại Việt Nam - Bài 1: Đòn bẩy xóa đói giảm nghèo bền vững Chống sa mạc hóa tại Việt Nam - Bài 1: Đòn bẩy xóa đói giảm nghèo bền vững

Sa mạc hóa không còn là câu chuyện của những vùng đất xa xôi, mà đang hiện hữu ngay trong quá trình phát triển của ...

Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa: Góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa: Góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững

Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 khoanh vùng và định vị các khu vực đất bị sa mạc hóa toàn quốc và theo ...

Lâm Đồng triển khai đồng bộ Chương trình hành động chống sa mạc hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2050 Lâm Đồng triển khai đồng bộ Chương trình hành động chống sa mạc hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2050

UBND tỉnh Lâm Đồng vừa ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình hành động chống sa mạc hóa giai đoạn đến năm ...

Bài liên quan

Hưng Yên phấn đấu cơ bản không còn hộ nghèo, hoàn thành xóa nhà tạm trong năm 2026

Hưng Yên phấn đấu cơ bản không còn hộ nghèo, hoàn thành xóa nhà tạm trong năm 2026

Hưng Yên đặt mục tiêu cơ bản không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều vào cuối năm 2026, đồng thời hoàn thành hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho 100% hộ đủ điều kiện. Theo rà soát, toàn tỉnh hiện còn 10.335 hộ nghèo và dự kiến hỗ trợ 1.677 hộ xây mới hoặc sửa chữa nhà ở.
Cầu nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng trong nền kinh tế xanh

Cầu nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng trong nền kinh tế xanh

Trong tiến trình chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh và xây dựng chuỗi cung ứng bền vững đang trở thành xu thế tất yếu, mô hình hợp tác xã tiêu dùng ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong việc kết nối người sản xuất với người tiêu dùng. Tại thành phố Đà Nẵng - trung tâm kinh tế, thương mại và dịch vụ của khu vực miền Trung, Hợp tác xã tiêu dùng đã chính thức ra mắt không chỉ góp phần ổn định thị trường mà còn thúc đẩy tiêu dùng văn minh, minh bạch và hướng tới phát triển bền vững.
Liên kết vùng để kiến tạo hệ sinh thái nông nghiệp thông minh, kinh tế xanh

Liên kết vùng để kiến tạo hệ sinh thái nông nghiệp thông minh, kinh tế xanh

Liên kết lợi thế của Hà Nội, Bắc Ninh và Hưng Yên trong một chuỗi giá trị thống nhất được xác định là hướng đi quan trọng để mở rộng không gian phát triển nông nghiệp. Từ quy hoạch vùng nguyên liệu, hạ tầng dữ liệu, logistics lạnh, chế biến sâu đến phân phối hiện đại và thương mại điện tử xuyên biên giới, vấn đề đặt ra là phải chuyển những cam kết liên kết thành chương trình hành động có đầu mối, nguồn lực và sản phẩm cụ thể.
Hoàn thiện hệ thống tiêu chí OCOP: Nâng cao giá trị và khai thác hiệu quả kinh tế nông thôn

Hoàn thiện hệ thống tiêu chí OCOP: Nâng cao giá trị và khai thác hiệu quả kinh tế nông thôn

Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) tiếp tục ghi nhận kết quả tích cực khi đến hết tháng 6/2026, cả nước có 21.028 sản phẩm đạt từ 3 sao trở lên, tăng 1.986 sản phẩm so với cuối năm 2025. Cùng với đà tăng về số lượng, bộ tiêu chí OCOP mới được ban hành được kỳ vọng tạo động lực nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và gia tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm địa phương.
Tuyên Quang phát triển công nghệ sinh học, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp phát thải thấp

Tuyên Quang phát triển công nghệ sinh học, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp phát thải thấp

Tuyên Quang đặt mục tiêu phát triển mạnh công nghệ sinh học đến năm 2030, thúc đẩy nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế xanh, chuyển đổi số và nâng cao giá trị sản phẩm.
Huế: Xã Chân Mây - Lăng Cô vì một tương lai phát triển xanh, thông minh và bền vững

Huế: Xã Chân Mây - Lăng Cô vì một tương lai phát triển xanh, thông minh và bền vững

Trong dòng chảy phát triển mạnh mẽ của Huế, xã Chân Mây - Lăng Cô đang từng bước khẳng định vai trò là cực tăng trưởng kinh tế quan trọng ở phía Nam thành phố..

CÁC TIN BÀI KHÁC

Huế: Xã Chân Mây - Lăng Cô chủ động phòng, chống cháy rừng và bảo vệ tài nguyên rừng

Huế: Xã Chân Mây - Lăng Cô chủ động phòng, chống cháy rừng và bảo vệ tài nguyên rừng

Ngày 21/7, dưới tác động của thời tiết nắng nóng kéo dài, một vụ cháy đã xảy ra tại khu vực rừng keo sản xuất thuộc thôn Phú Hải, xã Chân Mây - Lăng Cô, Tp. Huế.
Nghệ An triển khai giải pháp bảo đảm an toàn đập, hồ chứa trước nguy cơ mưa lũ cực đoan do El Nino

Nghệ An triển khai giải pháp bảo đảm an toàn đập, hồ chứa trước nguy cơ mưa lũ cực đoan do El Nino

Để đối phó với hiện tượng El Nino đang diễn biến phức tạp ở nước ta, tỉnh Nghệ An yêu cầu Sở Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với các đơn vị, địa phương khẩn trương triển khai các biện pháp đảm bảo an toàn hồ đập, vùng hạ du hồ chứa thủy lợi trên địa bàn để đảm bảo an toàn.
Thời tiết thất thường tại Ấn Độ đe dọa sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực

Thời tiết thất thường tại Ấn Độ đe dọa sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực

Gió mùa tại Ấn Độ đang diễn biến bất thường khi chuyển nhanh từ khô hạn sang mưa cực lớn rồi trở lại khô hạn chỉ trong thời gian ngắn. Biến động này làm gia tăng nguy cơ thiệt hại đối với cây trồng, gây khó khăn cho lịch thời vụ và đặt ra thách thức lớn đối với nền nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào lượng mưa tự nhiên.
Bãi rác lớn nhất Nghệ An bốc cháy dữ dội, cột khói bốc cao hàng trăm mét

Bãi rác lớn nhất Nghệ An bốc cháy dữ dội, cột khói bốc cao hàng trăm mét

Cháy lớn bùng phát tại bãi rác Khu liên hiệp xử lý rác thải rắn Nghi Yên khiến công tác chữa cháy gặp rất nhiều khó khăn. Tình hình trở nên phức tạp hơn khi tàn lửa bén sáng rừng thông bên cạnh, cột khói đen bốc cao hàng trăm mét.
Nghệ An: Xã Hùng Châu khẩn trương triển khai các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch cúm gia cầm H5N1

Nghệ An: Xã Hùng Châu khẩn trương triển khai các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch cúm gia cầm H5N1

Ổ dịch cúm gia cầm H5N1 bùng phát tại xã Hùng Châu khiến lực lượng chức năng phải tiêu hủy gần 18.000 con gia cầm. Trước nguy cơ dịch bệnh lan rộng, chính quyền địa phương và các ngành chức năng tỉnh Nghệ An đang nỗ lực khoanh vùng, khống chế dịch bệnh.
Siêu El Nino đe dọa sản lượng lúa Philippines, nguy cơ giảm tới 30%

Siêu El Nino đe dọa sản lượng lúa Philippines, nguy cơ giảm tới 30%

Philippines đang đối mặt với nguy cơ sụt giảm mạnh sản lượng lúa khi hiện tượng siêu El Nino được dự báo gia tăng cường độ trong nửa cuối năm. Các chuyên gia cảnh báo sản lượng lúa có thể giảm tới 30%, làm gia tăng áp lực đối với an ninh lương thực trong nước và thị trường gạo khu vực Đông Nam Á.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu siết chặt an toàn hồ chứa trước nguy cơ mưa lũ cực đoan

Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu siết chặt an toàn hồ chứa trước nguy cơ mưa lũ cực đoan

Hiện tượng El Nino được dự báo tiếp tục gia tăng cường độ trong những tháng tới, làm gia tăng nguy cơ thiếu hụt lượng mưa nhưng vẫn tiềm ẩn các đợt mưa lũ cực đoan. Trước diễn biến thời tiết phức tạp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu các địa phương khẩn trương rà soát, tăng cường các giải pháp bảo đảm an toàn đập, hồ chứa thủy lợi và vùng hạ du.
Hạn hán đe dọa vụ ngô chủ lực của Brazil, nguy cơ giảm sản lượng năm 2026

Hạn hán đe dọa vụ ngô chủ lực của Brazil, nguy cơ giảm sản lượng năm 2026

Khô hạn kéo dài tại miền Trung Brazil đang gây áp lực lớn lên vụ ngô thứ hai, đe dọa năng suất và nguồn cung xuất khẩu của một trong những nước sản xuất ngô hàng đầu thế giới.
Bảo vệ động vật hoang dã - Hành động thiết thực vì sự phát triển bền vững

Bảo vệ động vật hoang dã - Hành động thiết thực vì sự phát triển bền vững

Việc bảo vệ động vật hoang dã là góp phần duy trì cân bằng hệ sinh thái và còn là trách nhiệm của mỗi cá nhân trong việc gìn giữ tài nguyên thiên nhiên...
Côn Đảo hồi sinh những rạn san hô quý sau biến đổi khí hậu

Côn Đảo hồi sinh những rạn san hô quý sau biến đổi khí hậu

San hô Côn Đảo đang phục hồi sau đợt biển nóng năm 2024. Các nhà khoa học tiếp tục theo dõi, phục hồi hệ sinh thái nhằm gìn giữ nguồn tài nguyên biển quý giá.
VQG Phong Nha - Kẻ Bàng ban hành phương án mới về quản lý, bảo vệ quần thể Bách xanh núi đá

VQG Phong Nha - Kẻ Bàng ban hành phương án mới về quản lý, bảo vệ quần thể Bách xanh núi đá

Ban quản lý Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng vừa ban hành phương án mới về quản lý, bảo vệ quần thể Bách xanh núi đá (Calocedrus rupestris) trong lâm phận, nhằm tăng cường bảo tồn nguồn gen thực vật quý hiếm, góp phần giữ gìn các giá trị nổi bật toàn cầu của Di sản thiên nhiên thế giới…
Tà Năng nâng cao năng lực cộng đồng trong phòng, chống thiên tai đến năm 2030

Tà Năng nâng cao năng lực cộng đồng trong phòng, chống thiên tai đến năm 2030

Trước diễn biến ngày càng phức tạp của biến đổi khí hậu và thiên tai, UBND xã Tà Năng đã ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án “Nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng đến năm 2030”. Kế hoạch hướng tới xây dựng cộng đồng chủ động, an toàn trước thiên tai, đồng thời nâng cao năng lực ứng phó của chính quyền và người dân, góp phần giảm thiểu thiệt hại về người, tài sản và môi trường.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính