ki-niem-15-voaa
Thứ hai 02/11/2026 03:45Thứ hai 02/11/2026 03:45 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Kinh tế biển và khoa học về biển trong chiến lược phát triển của Việt Nam

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Biển và đại dương chiếm hơn 70% diện tích bề mặt Trái Đất, giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với sự sống và sự phát triển của nhân loại. Đối với Việt Nam - một quốc gia ven biển thuộc khu vực Đông Nam Á, biển không chỉ mang ý nghĩa về tài nguyên, kinh tế mà còn có giá trị đặc biệt về quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia. Vì vậy, phát triển kinh tế biển gắn với đẩy mạnh khoa học về biển là yêu cầu cấp thiết và mang tính chiến lược lâu dài.
Kinh tế biển và khoa học về biển trong chiến lược phát triển của Việt Nam
Biển và đại dương có vai trò vô cùng quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội

Việt Nam có bờ biển dài hơn 3.260 km, vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn, nhiều đảo và quần đảo quan trọng như Hoàng Sa và Trường Sa. Biển Đông - nơi Việt Nam có vùng biển rộng lớn - là một trong những khu vực có vị trí địa chính trị và kinh tế quan trọng bậc nhất thế giới. Nhờ lợi thế đó, nước ta có điều kiện thuận lợi để phát triển đa dạng các ngành kinh tế biển.

Trước hết, kinh tế biển bao gồm nhiều lĩnh vực quan trọng như khai thác và nuôi trồng thủy sản, dầu khí, vận tải biển, du lịch biển, công nghiệp đóng tàu, năng lượng tái tạo ngoài khơi và dịch vụ logistics. Trong đó, thủy sản là một trong những ngành mũi nhọn. Nguồn lợi hải sản phong phú đã giúp Việt Nam trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới. Việc phát triển nuôi biển công nghệ cao, ứng dụng tiến bộ khoa học trong bảo quản, chế biến sau thu hoạch góp phần nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm.

Bên cạnh đó, ngành dầu khí cũng giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế biển. Hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí trên thềm lục địa không chỉ đóng góp đáng kể vào ngân sách quốc gia mà còn thúc đẩy phát triển công nghiệp phụ trợ và dịch vụ kỹ thuật. Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng toàn cầu, việc phát triển các nguồn năng lượng tái tạo như điện gió ngoài khơi, điện sóng biển, điện mặt trời trên biển đang trở thành xu hướng tất yếu, mở ra tiềm năng lớn cho tương lai.

Du lịch biển, đảo là một lĩnh vực có nhiều triển vọng. Những địa danh nổi tiếng như Vịnh Hạ Long, Phú Quốc hay Nha Trang đã và đang thu hút hàng triệu lượt khách du lịch mỗi năm. Du lịch biển không chỉ mang lại nguồn thu lớn mà còn tạo việc làm cho người dân ven biển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp.

Tuy nhiên, phát triển kinh tế biển không thể tách rời yếu tố bền vững. Việc khai thác quá mức tài nguyên, ô nhiễm môi trường biển, suy giảm đa dạng sinh học và tác động của biến đổi khí hậu đang đặt ra nhiều thách thức. Nước biển dâng, xói lở bờ biển, axit hóa đại dương, rác thải nhựa… ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của người dân và hệ sinh thái biển. Do đó, phát triển kinh tế biển cần gắn với bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên.

Trong bối cảnh đó, khoa học về biển đóng vai trò then chốt. Khoa học biển bao gồm nhiều lĩnh vực như hải dương học, địa chất biển, sinh học biển, khí tượng thủy văn biển, công nghệ khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường biển. Thông qua nghiên cứu khoa học, con người có thể hiểu rõ hơn về cấu trúc, đặc điểm và quy luật vận động của biển; dự báo thiên tai; đánh giá tiềm năng tài nguyên; đề xuất giải pháp quản lý hiệu quả và bền vững.

Việc đầu tư cho nghiên cứu khoa học biển giúp nâng cao năng lực dự báo bão, áp thấp nhiệt đới và các hiện tượng thời tiết cực đoan, từ đó giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản. Đồng thời, nghiên cứu khoa học còn hỗ trợ xác định ngư trường, bảo tồn nguồn lợi thủy sản, quy hoạch không gian biển hợp lý. Các công nghệ quan trắc hiện đại, vệ tinh viễn thám, thiết bị lặn sâu, robot tự hành dưới nước… đang mở ra khả năng khám phá những vùng biển sâu mà trước đây con người khó tiếp cận.

Đối với Việt Nam, đẩy mạnh khoa học về biển còn có ý nghĩa quan trọng trong việc khẳng định và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Những nghiên cứu về địa chất, địa mạo, tài nguyên và môi trường biển cung cấp cơ sở khoa học và pháp lý cho việc quản lý, khai thác và bảo vệ vùng biển, đảo. Đồng thời, hợp tác quốc tế trong nghiên cứu biển giúp Việt Nam tiếp cận công nghệ tiên tiến, nâng cao vị thế trong khu vực và trên thế giới.

Để phát triển kinh tế biển gắn với khoa học biển, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, cần xây dựng chiến lược tổng thể về phát triển kinh tế biển bền vững, trong đó xác định rõ các ngành ưu tiên và quy hoạch không gian biển hợp lý.

Thứ hai, tăng cường đầu tư cho nghiên cứu khoa học, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực hải dương học, công nghệ biển và quản lý tài nguyên biển. Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại trong khai thác, nuôi trồng và bảo vệ môi trường biển.

Bên cạnh đó, cần nâng cao nhận thức của cộng đồng về vai trò và tầm quan trọng của biển. Người dân ven biển cần được hướng dẫn khai thác hợp lý, không đánh bắt tận diệt, không xả thải gây ô nhiễm. Doanh nghiệp phải tuân thủ nghiêm các quy định về bảo vệ môi trường, đầu tư công nghệ sạch, giảm thiểu phát thải. Nhà nước cần tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.

Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, kinh tế biển được xem là động lực tăng trưởng mới của nhiều quốc gia. Với lợi thế tự nhiên to lớn và vị trí địa chiến lược quan trọng, Việt Nam có tiềm năng trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển. Tuy nhiên, điều đó chỉ có thể đạt được khi chúng ta biết kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, giữa khai thác tài nguyên và đầu tư cho khoa học công nghệ.

Kinh tế biển và khoa học về biển có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau. Khoa học biển là nền tảng để khai thác hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên; còn kinh tế biển tạo động lực và nguồn lực cho nghiên cứu khoa học phát triển. Trong tương lai, việc đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa học biển sẽ là chìa khóa để Việt Nam vươn ra đại dương, phát triển thịnh vượng và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo của Tổ quốc./.

Bài liên quan

CÁC TIN BÀI KHÁC

Gỡ nút thắt vật tư nông nghiệp hữu cơ - Kỳ 2: Giải pháp từ chính sách đến thị trường

Gỡ nút thắt vật tư nông nghiệp hữu cơ - Kỳ 2: Giải pháp từ chính sách đến thị trường

Chuẩn hóa nguyên liệu, nâng cao chất lượng phân bón, phát triển chế phẩm sinh học và tăng cường liên kết sản xuất là những giải pháp được đặt ra từ thực tiễn doanh nghiệp. Để các giải pháp phát huy hiệu quả, cần có sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, đơn vị nghiên cứu, doanh nghiệp và người sản xuất hữu cơ.
Cố Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn - người tiên phong đưa cây mắc ca từ Australia về Việt Nam

Cố Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn - người tiên phong đưa cây mắc ca từ Australia về Việt Nam

Trong hành trình đổi mới nông nghiệp Việt Nam, có những con người không chỉ để lại dấu ấn qua những quyết sách trong thời gian đương chức, mà còn được nhớ đến bởi tầm nhìn vượt trước thời gian. Cố Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn là một trong những người như vậy. Gắn bó với lĩnh vực nông nghiệp trong nhiều năm, ông quan tâm đến việc tìm kiếm những giống cây trồng mới, có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện sinh thái nước ta. Trong câu chuyện phát triển cây mắc ca ở Việt Nam, tên tuổi ông gắn với những nỗ lực vận động, nghiên cứu và thúc đẩy đưa loại cây có nguồn gốc từ Australia này vào sản xuất.
Gỡ nút thắt vật tư nông nghiệp hữu cơ - Kỳ 1: Những rào cản từ thực tiễn

Gỡ nút thắt vật tư nông nghiệp hữu cơ - Kỳ 1: Những rào cản từ thực tiễn

Vật tư đầu vào đáp ứng tiêu chuẩn, giá thành hợp lý và phát huy hiệu quả trên đồng ruộng đang là mối quan tâm của nhiều doanh nghiệp sản xuất hữu cơ. Tại hội nghị về vật tư đầu vào tổ chức ngày 17/10 ở TP. Hồ Chí Minh, những khó khăn từ khâu sản xuất phân bón đến sử dụng chế phẩm sinh học đã được đặt ra, cho thấy yêu cầu tháo gỡ các rào cản trong chuỗi cung ứng vật tư phục vụ nông nghiệp hữu cơ.
Phú Thọ tăng cường hợp tác phát triển các sản phẩm nông nghiệp giá trị kinh tế cao

Phú Thọ tăng cường hợp tác phát triển các sản phẩm nông nghiệp giá trị kinh tế cao

Đồng chí Phạm Đại Dương - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Thọ đã chủ trì hội nghị trao đổi hợp tác với Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam về phát triển các sản phẩm nông nghiệp giá trị kinh tế cao giai đoạn 2026 - 2035.
Thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ và sinh thái: Tháo gỡ điểm nghẽn, kết nối thị trường

Thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ và sinh thái: Tháo gỡ điểm nghẽn, kết nối thị trường

Từ vật tư đầu vào, tiêu chuẩn, chứng nhận đến tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ, nhiều vấn đề thực tiễn được các nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã đưa ra tại Hội thảo “Thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ và sinh thái ở Việt Nam”. Nhìn lại chặng đường 15 năm hình thành và phát triển của Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) (2011 - 2026), các đại biểu đề xuất những giải pháp để mở rộng sản xuất, củng cố niềm tin thị trường và nâng cao giá trị cho người làm hữu cơ.
Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 3: Phân bón giả và cái giá phải trả của người nông dân

Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 3: Phân bón giả và cái giá phải trả của người nông dân

Thị trường phân bón liên tiếp phát hiện các vụ sản xuất, kinh doanh hàng giả với quy mô lớn, cho thấy công tác kiểm soát chất lượng vật tư nông nghiệp cần được siết chặt. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến chi phí, năng suất và hiệu quả mùa vụ của người nông dân mà còn tác động đến uy tín của doanh nghiệp chân chính và tính minh bạch của thị trường.
Phụ nữ Bằng Lăng - Tự tin, sáng tạo, chung sức xây dựng nông nghiệp hữu cơ

Phụ nữ Bằng Lăng - Tự tin, sáng tạo, chung sức xây dựng nông nghiệp hữu cơ

Từ những nương cà phê không thuốc cỏ, những luống rau xanh nói không với hóa chất đến vai trò giữ bình yên thôn bản, phụ nữ thôn Bằng Lăng đang khẳng định hình ảnh người phụ nữ Tây Nguyên thời đại mới - tự chủ kinh tế và giữ màu xanh cho đất.
Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 2: Cần giải pháp đồng bộ

Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 2: Cần giải pháp đồng bộ

Muốn ngăn chặn hiệu quả phân bón giả, phân bón kém chất lượng, không thể chỉ dừng ở việc phát hiện và xử phạt những vụ vi phạm riêng lẻ. Yêu cầu đặt ra là phải kiểm soát từ nguồn sản xuất, minh bạch chuỗi phân phối, nâng cao năng lực kiểm nghiệm và xác lập trách nhiệm phối hợp giữa Nhà nước, hiệp hội, doanh nghiệp trong bảo vệ quyền lợi người nông dân.
Áp lực cạnh tranh và giảm giá nông sản: Đâu là cốt lõi?

Áp lực cạnh tranh và giảm giá nông sản: Đâu là cốt lõi?

Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, nông sản Việt Nam đứng trước cơ hội mở rộng thị trường nhưng cũng phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt về giá cả, chất lượng và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn. Tình trạng được mùa mất giá, giá bán bấp bênh, chi phí đầu vào tăng cao vẫn là nỗi lo thường trực của người sản xuất. Vậy đâu là nguyên nhân cốt lõi và giải pháp nào giúp nông sản Việt thoát khỏi vòng luẩn quẩn cạnh tranh bằng giá rẻ?
Thúc đẩy giáo dục STEAM, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Thúc đẩy giáo dục STEAM, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Đại học Huế thúc đẩy giáo dục STEAM, tăng hợp tác doanh nghiệp, mở rộng thực tập và phát triển nhân lực chất lượng cao, hướng đến phát triển bền vững...
Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 1: Phân bón giả và những “lỗ hổng” trong quản lý

Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 1: Phân bón giả và những “lỗ hổng” trong quản lý

Phân bón giả, phân bón kém chất lượng không chỉ gây thiệt hại cho người nông dân, làm tổn hại uy tín doanh nghiệp mà còn đặt ra những thách thức đối với công tác quản lý vật tư nông nghiệp. Những vụ việc được phát hiện gần đây cho thấy, bên cạnh thủ đoạn gian lận ngày càng tinh vi, vẫn còn những bất cập cần được nhận diện và khắc phục từ khâu sản xuất đến lưu thông, phân phối.
Tháo gỡ điểm nghẽn vật tư đầu vào cho nông nghiệp hữu cơ

Tháo gỡ điểm nghẽn vật tư đầu vào cho nông nghiệp hữu cơ

Vật tư đầu vào đạt chuẩn có vai trò quan trọng đối với chất lượng nông sản hữu cơ, song nguồn cung, giá thành và khả năng kiểm soát chất lượng vẫn là những thách thức đối với người sản xuất. Tháo gỡ các điểm nghẽn này đòi hỏi sự phối hợp giữa doanh nghiệp, hiệp hội và nông dân nhằm xây dựng chuỗi cung ứng vật tư minh bạch, ổn định và đáp ứng yêu cầu sản xuất hữu cơ.
XEM THÊM
phu-my
dam-ca-mau-15-nam-vi-hoa
cuoc-thi-viet
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính