![]() |
| Ảnh minh họa |
Dự thảo Quyết định phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Đề án giảm thiểu khí các-bon trên địa bàn Đồng Nai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đang mở ra một giai đoạn mới trong quá trình hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng xanh của địa phương.
Đề án được xây dựng trên cơ sở Quyết định số 385/QĐ-UBND ngày 19/2/2024 của UBND tỉnh Đồng Nai về phê duyệt Đề án giảm thiểu khí các-bon đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Việc điều chỉnh được Sở Nông nghiệp và Môi trường đề xuất tại Tờ trình số 538/TTr-SNNMT ngày 5/12/2025, Công văn số 3057/SNNMT-MT ngày 27/2/2026 và Công văn số 1188/SNNMT-MT ngày 19/5/2026.
Theo dự thảo, thời gian triển khai nghiên cứu Đề án được điều chỉnh đến tháng 6/2027; thời kỳ thực hiện từ năm 2024 đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đồng Nai cũng yêu cầu xây dựng lộ trình giảm nhẹ phát thải khí nhà kính theo từng ngành, lĩnh vực, với mục tiêu cụ thể, có thể đo lường, theo dõi và đánh giá.
Đáng chú ý, Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao phụ trách các lĩnh vực xử lý chất thải, nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất; đồng thời tổ chức thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ, kinh tế tuần hoàn, phát thải các-bon thấp và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đây là nền tảng quan trọng để Đồng Nai đưa nông nghiệp hữu cơ từ một mô hình sản xuất đơn lẻ trở thành giải pháp có tính chiến lược trong lộ trình Net Zero.
Nông nghiệp hữu cơ không nên chỉ được hiểu là việc hạn chế hoặc không sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật tổng hợp. Nếu được tổ chức đúng quy trình, đây còn là hệ thống sản xuất hướng đến cải thiện chất lượng đất, tăng hàm lượng hữu cơ, tái sử dụng phụ phẩm, giảm chất thải và hạn chế phát thải trong toàn bộ chuỗi sản xuất.
Với lợi thế về chăn nuôi, cây công nghiệp, cây ăn quả, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và công nghiệp chế biến, Đồng Nai có điều kiện hình thành những chuỗi sản xuất hữu cơ, tuần hoàn với quy mô đủ lớn. Phụ phẩm từ trồng trọt có thể được sử dụng làm thức ăn, nguyên liệu đệm lót, phân hữu cơ hoặc nhiên liệu sinh học. Chất thải chăn nuôi sau xử lý có thể trở thành nguồn phân bón, khí sinh học và năng lượng phục vụ sản xuất.
Vấn đề quan trọng là phải tổ chức các dòng vật chất này thành chuỗi khép kín, có kiểm soát môi trường, thay vì để từng hộ dân, trang trại hoặc doanh nghiệp tự xử lý manh mún.
Xây dựng, hoàn thiện đánh giá vùng thí điểm phát thải thấp
Trước hết, Đồng Nai nên lựa chọn một số địa bàn có điều kiện sản xuất tập trung để xây dựng vùng nông nghiệp hữu cơ và phát thải thấp thí điểm. Mỗi vùng cần xác định rõ sản phẩm chủ lực, diện tích, số hộ tham gia, doanh nghiệp liên kết, lượng vật tư đầu vào, lượng chất thải phát sinh và khả năng giảm phát thải.
Không nên triển khai dàn trải ngay từ đầu. Địa phương có thể lựa chọn một số chuỗi có khả năng tạo hiệu quả rõ ràng như chăn nuôi gắn với sản xuất phân hữu cơ, vùng cây ăn quả sử dụng phụ phẩm tuần hoàn, vùng sản xuất rau ứng dụng tưới tiết kiệm, hoặc vùng cây công nghiệp áp dụng quản lý đất và dinh dưỡng theo hướng hữu cơ.
Sau quá trình thí điểm, các mô hình có hiệu quả kinh tế, môi trường và khả năng nhân rộng mới được mở rộng sang những địa bàn khác.
Cùng với xây dựng vùng sản xuất, Đồng Nai cần sớm hình thành hệ thống đo đếm, báo cáo và thẩm tra lượng phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp. Đây là điều kiện bắt buộc nếu địa phương muốn đánh giá chính xác hiệu quả của các chương trình giảm phát thải và tiến tới khai thác giá trị từ tín chỉ các-bon.
Mỗi mô hình nên có số liệu ban đầu về lượng phân bón, nhiên liệu, điện năng, nước tưới, thức ăn chăn nuôi, chất thải và phương thức sử dụng đất. Sau khi áp dụng quy trình hữu cơ, tuần hoàn hoặc công nghệ mới, các số liệu phải được tiếp tục cập nhật để xác định mức phát thải đã giảm.
Việc xây dựng cơ sở dữ liệu không nhất thiết phải bắt đầu bằng những hệ thống quá phức tạp. Đồng Nai có thể triển khai từ các biểu mẫu điện tử đơn giản, nhật ký sản xuất số, bản đồ vùng trồng và mã định danh cho từng trang trại, hợp tác xã. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, địa phương mới có cơ sở kết nối với các chương trình kiểm kê khí nhà kính và thị trường các-bon.
Rà soát, xây dựng chỉ tiêu hữu cơ trong nông nghiệp
Một nội dung cần được ưu tiên là giảm phát thải trong chăn nuôi. Đồng Nai có hoạt động chăn nuôi phát triển, đồng nghĩa với lượng chất thải, nước thải và khí phát sinh lớn. Nếu không được thu gom, xử lý đúng quy trình, đây sẽ là nguồn gây ô nhiễm và phát thải đáng kể.
Tỉnh cần rà soát các trang trại, cơ sở chăn nuôi theo quy mô, công nghệ xử lý và lượng chất thải phát sinh; từ đó xây dựng mô hình thu gom, xử lý tập trung hoặc liên kết giữa trang trại với cơ sở sản xuất phân hữu cơ.
Hệ thống khí sinh học cần được vận hành thực chất, có kiểm tra hiệu suất, tránh tình trạng đầu tư công trình nhưng không thu hồi và sử dụng hiệu quả nguồn khí tạo ra. Đối với khu vực chăn nuôi tập trung, có thể nghiên cứu hình thành doanh nghiệp hoặc hợp tác xã chuyên thu gom chất thải, sản xuất phân hữu cơ và cung cấp lại cho vùng trồng trọt.
Đồng Nai cũng cần coi đất nông nghiệp là một nguồn lực quan trọng trong chiến lược giảm phát thải. Việc tăng hàm lượng hữu cơ trong đất, che phủ đất, hạn chế xói mòn, sử dụng phân bón hợp lý và duy trì hệ sinh thái cây trồng có thể góp phần cải thiện sức khỏe đất và khả năng lưu giữ các-bon.
Do đó, cùng với chỉ tiêu diện tích sản xuất hữu cơ, địa phương nên xây dựng các chỉ tiêu về chất lượng đất, hàm lượng hữu cơ, hiệu quả sử dụng phân bón, nước tưới và tỷ lệ phụ phẩm được tái sử dụng. Khi đó, kết quả chuyển đổi sẽ được đánh giá bằng số liệu thay vì chỉ dựa trên số lượng mô hình hoặc diện tích đăng ký.
Sự liên kết giữa nông dân và địa phương
Để người dân tham gia, chính sách phải bảo đảm lợi ích kinh tế. Nông dân khó duy trì sản xuất hữu cơ trong thời gian dài nếu chi phí tăng, năng suất có thể biến động nhưng sản phẩm không có đầu ra ổn định hoặc giá bán không khác biệt.
Đồng Nai cần tổ chức liên kết giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến, hệ thống phân phối và tổ chức tín dụng. Doanh nghiệp tham gia chuỗi phải có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật, kiểm soát chất lượng và thu mua sản phẩm theo hợp đồng. Hợp tác xã đóng vai trò tập hợp đất đai, tổ chức sản xuất, ghi chép dữ liệu và đại diện cho người dân trong quá trình chứng nhận.
Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Môi trường cùng các đơn vị liên quan cần nghiên cứu cơ chế tín dụng xanh, hỗ trợ lãi suất, hỗ trợ chứng nhận và ưu tiên tiếp cận vốn cho các dự án nông nghiệp hữu cơ, xử lý chất thải, sản xuất phân bón hữu cơ và năng lượng sinh học.
Bên cạnh đó, tiêu chí giảm phát thải cần được đưa vào quá trình lựa chọn nhà đầu tư đối với các dự án nông nghiệp, chăn nuôi và chế biến. Nhà đầu tư không chỉ chứng minh năng lực tài chính, công nghệ mà còn phải thể hiện được phương án sử dụng năng lượng, quản lý chất thải, tái sử dụng phụ phẩm và giảm phát thải trong toàn bộ vòng đời dự án.
Đồng Nai cũng có thể nghiên cứu xây dựng nhãn nhận diện cho sản phẩm nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn và phát thải thấp của địa phương. Nhãn nhận diện phải gắn với hệ thống truy xuất nguồn gốc và dữ liệu sản xuất cụ thể, tránh tình trạng sử dụng khái niệm “xanh”, “sạch”, “hữu cơ” như một công cụ quảng cáo nhưng không có tiêu chuẩn kiểm chứng.
Về tổ chức thực hiện, cần thành lập nhóm công tác liên ngành về nông nghiệp phát thải thấp, với sự tham gia của cơ quan quản lý nông nghiệp, môi trường, tài chính, khoa học công nghệ, xây dựng, công thương, chính quyền cơ sở, hiệp hội doanh nghiệp và các đơn vị nghiên cứu.
Nhóm công tác có nhiệm vụ lựa chọn mô hình thí điểm, thống nhất phương pháp thu thập dữ liệu, tháo gỡ thủ tục đầu tư, huy động vốn và đánh giá kết quả định kỳ. Mỗi nhiệm vụ cần có cơ quan chủ trì, thời hạn hoàn thành và sản phẩm đầu ra rõ ràng.
Mục tiêu Net Zero năm 2050 là một hành trình dài, nhưng các hành động giảm phát thải phải được bắt đầu ngay từ những mô hình có thể đo lường và nhân rộng. Nông nghiệp hữu cơ sẽ không thể trở thành động lực giảm phát thải nếu chỉ dừng lại ở các chương trình vận động hoặc mô hình trình diễn nhỏ lẻ.
Khi được gắn với kinh tế tuần hoàn, dữ liệu phát thải, tín dụng xanh, thị trường tiêu thụ và quyền lợi trực tiếp của người sản xuất, nông nghiệp hữu cơ có thể trở thành một trong những con đường khả thi nhất để Đồng Nai vừa bảo vệ môi trường, nâng cao giá trị nông sản, vừa tiến nhanh hơn trên lộ trình phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050./.