ki-niem-15-voaa
Chủ nhật 08/11/2026 04:07Chủ nhật 08/11/2026 04:07 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu thuộc nhóm dẫn đầu châu Á về công nghiệp sinh học

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2045 làm chủ công nghệ sinh học thế hệ mới, công nghệ sinh học chiến lược và công nghệ chỉnh sửa gen; đồng thời hình thành thị trường, phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp và các sản phẩm quy mô công nghiệp phục vụ nông nghiệp xanh, tuần hoàn, bền vững. Đáng chú ý, công nghệ sinh học sẽ được ứng dụng để chẩn đoán độ phì nhiêu, sức khỏe đất trồng trọt, chất lượng nước tưới và môi trường, phục vụ nông nghiệp an toàn và nông nghiệp hữu cơ.
Ứng dụng công nghệ sinh học góp phần phát triển nông nghiệp xanh, tuần hoàn, bền vững và nâng cao năng lực bảo vệ môi trường. Ảnh minh họa
Ứng dụng công nghệ sinh học góp phần phát triển nông nghiệp xanh, tuần hoàn, bền vững và nâng cao năng lực bảo vệ môi trường. Ảnh minh họa

Cụ thể, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đã ký Quyết định số 1466/QĐ-TTg ngày 31/7/2026, phê duyệt Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường.

Kế hoạch xác định công nghiệp sinh học có vai trò nền tảng quan trọng, dẫn dắt đổi mới mô hình tăng trưởng của ngành nông nghiệp và môi trường trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Thông qua việc làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp và sản phẩm có sức cạnh tranh cao, Việt Nam hướng tới bảo đảm tự chủ về công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường; đồng thời đóng góp vào tăng trưởng của ngành, tăng trưởng kinh tế, quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế.

Thay thế ít nhất 50% sản phẩm công nghệ sinh học nhập khẩu vào năm 2030

Trong giai đoạn 2026 - 2030, Kế hoạch tập trung nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các công nghệ chiến lược, gồm công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến, công nghệ di truyền, công nghệ tế bào, chọn giống chính xác, chọn giống theo hệ gen cùng các công nghệ liên quan.

Nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược được ưu tiên gồm giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản thế hệ mới; vắc-xin; bộ sinh phẩm chẩn đoán; chế phẩm sinh học thế hệ mới; phân bón hữu cơ vi sinh; thuốc sinh học; chế phẩm bảo quản nông sản và xử lý môi trường sử dụng trong chăn nuôi, thú y, thủy sản, trồng trọt và bảo vệ thực vật.

Kế hoạch cũng chú trọng công nghệ bảo quản, chế biến sâu đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu, phục vụ các lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật, chăn nuôi và thú y, thủy sản và kiểm ngư, lâm nghiệp và kiểm lâm, bảo tồn đa dạng sinh học; từng bước thay thế sản phẩm có nguồn gốc hóa học và sản phẩm nhập khẩu.

Cùng với nghiên cứu và phát triển sản phẩm, Việt Nam sẽ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đủ khả năng làm chủ, tiếp nhận, giải mã, ứng dụng và chuyển giao công nghệ mới, công nghệ tiên tiến, công nghệ chiến lược ở quy mô công nghiệp.

Đến năm 2030, ít nhất 5 phòng thí nghiệm trọng điểm và 5 phòng thí nghiệm chuyên ngành sẽ được xây dựng, nâng cấp với cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, đạt chuẩn quốc tế, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học ở quy mô công nghiệp.

Kế hoạch đặt mục tiêu quy mô đầu tư và quy mô tăng trưởng của doanh nghiệp công nghiệp sinh học tăng 50%; sản phẩm công nghệ sinh học trong nước thay thế ít nhất 50% sản phẩm nhập khẩu; công nghiệp sinh học nông nghiệp và môi trường đóng góp 7% giá trị gia tăng của ngành công nghiệp sinh học.

Hướng tới làm chủ công nghệ chỉnh sửa gen

Trong giai đoạn 2031 - 2035 và tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu làm chủ công nghệ sinh học thế hệ mới, công nghệ sinh học chiến lược và công nghệ chỉnh sửa gen; ứng dụng các công nghệ này để tạo ra sản phẩm quy mô công nghiệp, cung ứng cho thị trường trong nước và xuất khẩu các sản phẩm chất lượng, an toàn.

Hệ thống trang thiết bị và nguồn nhân lực tiếp tục được tăng cường để đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, tiếp nhận, ứng dụng, chuyển giao công nghệ mới và công nghệ tiên tiến ở quy mô công nghiệp. Cơ chế, chính sách cũng được hoàn thiện nhằm phát triển công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế - kỹ thuật, hỗ trợ doanh nghiệp thương mại hóa sản phẩm và vươn lên nhóm dẫn đầu khu vực châu Á.

Kế hoạch hướng đến hình thành và phát triển thị trường công nghệ sinh học nông nghiệp và môi trường; góp phần đưa Việt Nam trở thành quốc gia có nền công nghiệp sinh học phát triển, là trung tâm sản xuất, dịch vụ thông minh về công nghệ sinh học và thuộc nhóm dẫn đầu khu vực châu Á.

Đến năm 2045, công nghiệp sinh học được kỳ vọng trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng của lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. Quy mô đầu tư và tăng trưởng của doanh nghiệp công nghiệp sinh học đặt mục tiêu tăng 70%; các sản phẩm được tạo ra từ Kế hoạch thay thế tối thiểu 60% sản phẩm nhập khẩu cùng loại; đóng góp 15% giá trị gia tăng của ngành công nghiệp sinh học.

Phát triển giống, chế phẩm sinh học phục vụ nông nghiệp hữu cơ

Kế hoạch đề ra sáu nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Trước hết là phát triển khoa học và công nghệ phục vụ tăng trưởng ngành nông nghiệp và môi trường.

Đối với trồng trọt và lâm nghiệp, các nhiệm vụ nghiên cứu sẽ tập trung ứng dụng công nghệ sinh học để cải tiến những tính trạng quý trên các loại cây trồng nông, lâm nghiệp chủ lực; nâng cao khả năng chống chịu dịch hại, giá trị kinh tế và khả năng nhân rộng trong sản xuất hàng hóa phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu.

Việt Nam sẽ phát triển, ứng dụng và làm chủ công nghệ gen thế hệ mới, công nghệ chỉnh sửa gen, công nghệ tế bào trong nghiên cứu chọn tạo giống cây trồng có tính trạng tốt, năng suất và chất lượng vượt trội, thích ứng với biến đổi khí hậu; đồng thời phát triển chế phẩm sinh học phòng, chống dịch hại.

Kế hoạch đặt ra yêu cầu làm chủ công nghệ nhân giống vô tính đối với một số cây trồng nông, lâm nghiệp ở quy mô công nghiệp, qua đó nâng cao năng suất, chất lượng, giảm giá thành và đáp ứng nhu cầu sản xuất trong nước, xuất khẩu.

Các công nghệ sau thu hoạch, chế phẩm sinh học thế hệ mới, bộ sinh phẩm chẩn đoán, giám định và quản lý sinh vật gây hại cũng được ưu tiên. Đáng chú ý, công nghệ sinh học sẽ được ứng dụng để chẩn đoán độ phì nhiêu, sức khỏe đất trồng trọt, chất lượng nước tưới và môi trường, phục vụ nông nghiệp an toàn và nông nghiệp hữu cơ.

Một hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu mã vạch ADN đối với nguồn gen di truyền bản địa sẽ được xây dựng, làm cơ sở cho việc bảo tồn, khai thác, phục tráng, phát triển, bảo hộ thương hiệu và chỉ dẫn địa lý đối với các nhóm sản phẩm đặc sản của Việt Nam.

Đối với vật nuôi, thủy sản và thú y, Kế hoạch ưu tiên làm chủ công nghệ gen thế hệ mới, công nghệ chỉnh sửa gen và các công nghệ chiến lược để sản xuất bộ sinh phẩm phát hiện nhanh, kiểm định, kiểm dịch và đánh giá chất lượng con giống. Các giống vật nuôi, thủy sản chủ lực sẽ được chọn tạo theo hướng tích hợp nhiều đặc tính ưu việt như năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu dịch bệnh và thích ứng với biến đổi khí hậu, điều kiện môi trường bất lợi.

Các nhiệm vụ nghiên cứu còn tập trung phát triển vắc-xin, chế phẩm sinh học và sản phẩm sinh học phục vụ giám sát, chẩn đoán, xét nghiệm, phòng, chống dịch bệnh; kiểm soát dư lượng chất cấm trong thực phẩm có nguồn gốc động vật; nâng cao sức đề kháng, hiệu quả sử dụng dinh dưỡng của vật nuôi, thủy sản; giám sát, cảnh báo và phòng, chống kháng thuốc.

Trong khâu bảo quản, chế biến và sau thu hoạch, công nghệ hiện đại cùng các bộ sinh phẩm sẽ được ứng dụng để kiểm định, đánh giá an toàn và chất lượng thực phẩm; phát hiện tác nhân gây bệnh và các yếu tố làm suy giảm chất lượng nông sản. Công nghệ tạo chế phẩm sinh học cũng được phát triển nhằm nâng cao giá trị gia tăng, tận dụng hiệu quả phụ phẩm và kéo dài thời gian bảo quản nông sản chủ lực.

Đầu tư phòng thí nghiệm, đào tạo nhân lực chất lượng cao

Nhóm nhiệm vụ thứ hai là xây dựng và phát triển tiềm lực công nghiệp sinh học. Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ đầu tư tập trung để xây dựng, nâng cấp và vận hành 5 phòng thí nghiệm trọng điểm, gồm phòng thí nghiệm công nghệ gen và công nghệ tế bào thực vật; công nghệ gen và công nghệ tế bào động vật chăn nuôi; công nghệ gen và công nghệ tế bào động vật thủy sản; thú y, chẩn đoán, xét nghiệm bệnh và kiểm tra chất lượng vắc-xin, chế phẩm sinh học; công nghệ vi sinh vật, enzym và protein.

Đến năm 2045, cả 5 phòng thí nghiệm được định hướng đạt chuẩn quốc tế, trở thành các phòng thí nghiệm tham chiếu quốc gia trong từng lĩnh vực, hỗ trợ làm chủ công nghệ và đưa sản phẩm công nghệ sinh học vào sản xuất, kinh doanh, thương mại trong và ngoài nước.

Kế hoạch đồng thời yêu cầu tăng cường trang thiết bị cho ít nhất 5 phòng thí nghiệm chuyên ngành thuộc các viện nghiên cứu, trường đại học theo vùng; thu hút các nguồn lực để xây dựng trung tâm thí nghiệm, kiểm định chất lượng nông, lâm sản và thủy sản, đánh giá an toàn sinh học đạt tiêu chuẩn quốc tế hoặc được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn phòng thí nghiệm được công nhận.

Danh mục nhiệm vụ kèm theo Quyết định đặt mục tiêu trong giai đoạn 2026 - 2035 tạo ra từ 10 đến 15 giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản thế hệ mới có năng suất cao, chất lượng tốt, kháng bệnh, thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải; phát triển từ 5 đến 10 vắc-xin, chế phẩm sinh học thế hệ mới và chuyển giao, nhân rộng vào thực tiễn.

Trong cùng giai đoạn, Kế hoạch đặt mục tiêu đào tạo 500 cán bộ, nghiên cứu viên trình độ cao về công nghệ sinh học và 2.000 lượt kỹ thuật viên, cán bộ quản lý. Việc đào tạo được gắn với nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho doanh nghiệp và địa phương; đồng thời hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh theo mô hình liên kết “3 nhà”: Nhà quản lý, Nhà trường và Doanh nghiệp.

Hệ thống cơ sở dữ liệu và thông tin quốc gia về công nghệ sinh học nông nghiệp và môi trường cũng sẽ tiếp tục được đầu tư, bảo đảm cung cấp, cập nhật và chia sẻ những thông tin cơ bản, mới nhất giữa các cơ quan, đơn vị, tổ chức và cán bộ làm việc trong lĩnh vực này.

Hình thành chuỗi nghiên cứu, sản xuất và kinh doanh

Nhóm nhiệm vụ thứ ba tập trung hình thành và phát triển doanh nghiệp công nghiệp sinh học ở quy mô công nghiệp trong các lĩnh vực giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản chủ lực; phân hữu cơ, phân hữu cơ vi sinh; thuốc bảo vệ thực vật sinh học; chế phẩm sinh học xử lý môi trường; thức ăn chăn nuôi và các sản phẩm phục vụ nông nghiệp an toàn, nông nghiệp hữu cơ.

Các doanh nghiệp cũng được khuyến khích phát triển chế phẩm sinh học phục vụ bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; vắc-xin phòng bệnh cho vật nuôi, thủy sản; thuốc thú y sinh học; bộ sinh phẩm chẩn đoán, xét nghiệm, giám sát dịch bệnh, dịch hại và kiểm soát dư lượng chất cấm.

Việc phát triển công nghiệp sinh học sẽ được tổ chức theo chuỗi đồng bộ từ nghiên cứu, sản xuất đến kinh doanh. Cơ chế liên kết giữa doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh quy mô công nghiệp với các tổ chức nghiên cứu và chuyên gia đầu ngành được tăng cường; doanh nghiệp được hỗ trợ tiếp cận, hợp tác nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa sản phẩm.

Danh mục nhiệm vụ kèm theo Quyết định xác định mục tiêu số doanh nghiệp ứng dụng công nghệ sinh học tăng tối thiểu 50% trong giai đoạn 2026 - 2035, qua đó góp phần hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của ngành.

Hoàn thiện chính sách, mở rộng hợp tác quốc tế

Nhóm nhiệm vụ thứ tư là rà soát, bổ sung cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích nghiên cứu, phát triển, chuyển giao và ứng dụng công nghệ sinh học; thu hút, đa dạng hóa nguồn lực đầu tư; trọng dụng nhân tài và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển công nghiệp sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.

Kế hoạch yêu cầu hoàn thiện chính sách, quy định pháp luật về quản lý an toàn sinh học phù hợp với các cam kết quốc tế; xây dựng và thực thi các ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng; hỗ trợ chuyển giao, nhập khẩu công nghệ, bí quyết công nghệ và phát triển thị trường công nghệ tiên tiến từ nước ngoài.

Cùng với đó là nghiên cứu cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong một số lĩnh vực đặc thù; hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia; xây dựng khung đánh giá, quản lý rủi ro đối với sản phẩm công nghệ sinh học; chuẩn hóa hệ thống giám định, phát hiện sinh vật biến đổi gen; thiết lập cơ chế giám sát sau cấp phép, xử lý sự cố và công khai thông tin.

Về hợp tác quốc tế, Việt Nam sẽ tăng cường hợp tác song phương, đa phương với các tổ chức quốc tế và các quốc gia có nền công nghiệp sinh học tiên tiến; đẩy mạnh nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao công nghệ, dây chuyền sản xuất và thiết bị giữa viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp trong nước với đối tác nước ngoài.

Kế hoạch cũng đặt ra yêu cầu có chính sách mua, tiếp nhận, chuyển giao và trao đổi các công nghệ thế hệ mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, từng bước làm chủ và ứng dụng vào sản xuất hàng hóa quy mô công nghiệp tại Việt Nam.

Nhóm nhiệm vụ cuối cùng là truyền thông nâng cao nhận thức về vai trò của công nghiệp sinh học; phổ biến kiến thức, thành tựu khoa học và công nghệ mới; tổ chức hoạt động khuyến nông, khuyến công, xây dựng mô hình trình diễn, tập huấn cho người dân và doanh nghiệp; khuyến khích sử dụng sản phẩm công nghiệp sinh học trong nước và xây dựng thương hiệu Việt Nam.

Khuyến khích doanh nghiệp và đầu tư theo hình thức công tư

Kinh phí thực hiện Kế hoạch được bảo đảm từ ngân sách nhà nước, vốn doanh nghiệp, vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay của các tổ chức tín dụng, tài trợ quốc tế và các nguồn vốn huy động hợp pháp khác. Trong đó, Nhà nước khuyến khích nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp và đầu tư theo hình thức đối tác công tư.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Một Ban Điều hành sẽ được thành lập, do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường làm Trưởng ban.

Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp phát triển khoa học, công nghệ, đầu tư phòng thí nghiệm và xây dựng cơ chế hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao công nghệ. Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Bộ Công Thương tham gia xây dựng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thương mại tiêu thụ sản phẩm. Bộ Tài chính chủ trì bố trí kinh phí theo quy định.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố căn cứ nội dung Kế hoạch và điều kiện thực tế để xây dựng, ban hành chương trình, kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường giai đoạn 2026 - 2035, tầm nhìn đến năm 2045 trên địa bàn.

Quyết định số 1466/QĐ-TTg có hiệu lực từ ngày ký và thay thế Quyết định số 429/QĐ-TTg ngày 24/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp đến năm 2030.

Hướng đi mới cho công nghiệp sinh học từ cây cỏ voi Hướng đi mới cho công nghiệp sinh học từ cây cỏ voi

Cỏ voi (miscanthus giganteus) đang ngày càng thu hút sự quan tâm của giới công nghiệp Pháp. Với năng suất cao và đặc tính thân ...

Cây trồng công nghệ sinh học bước vào giai đoạn phát triển mới Cây trồng công nghệ sinh học bước vào giai đoạn phát triển mới

Năm 2024, diện tích cây trồng công nghệ sinh học toàn cầu đạt 218,7 triệu ha, mức cao nhất từ trước đến nay, cùng xu ...

Đẩy mạnh sản xuất hữu cơ, ứng dụng công nghệ cao trên hơn 85.600 ha đất nông nghiệp Đẩy mạnh sản xuất hữu cơ, ứng dụng công nghệ cao trên hơn 85.600 ha đất nông nghiệp

Tỉnh Vĩnh Long tiếp tục cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, phát triển bền vững với hơn 85.600 ha sản xuất ...

Bèo hoa dâu: Giải pháp sinh học giúp tăng năng suất lúa và giảm phát thải khí nhà kính Bèo hoa dâu: Giải pháp sinh học giúp tăng năng suất lúa và giảm phát thải khí nhà kính

Bèo hoa dâu (Azolla) là giải pháp sinh học giúp cố định đạm, cải tạo đất, tăng năng suất cây trồng và giảm phát thải ...

Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học đến năng suất và chất lượng cây ăn quả hữu cơ Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học đến năng suất và chất lượng cây ăn quả hữu cơ

Trong sản xuất cây ăn quả hữu cơ, chế phẩm sinh học đang được xem là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng suất ...

Bài liên quan

Bảo Minh ra mắt nhận diện mới và kết nối cộng đồng lan tỏa nông sản Việt

Bảo Minh ra mắt nhận diện mới và kết nối cộng đồng lan tỏa nông sản Việt

Kỷ niệm 31 năm xây dựng và phát triển, Công ty Cổ phần Kinh doanh Chế biến Nông sản Bảo Minh ra mắt nhận diện thương hiệu “Ấn tín Nông sản Việt”, giới thiệu sản phẩm, giải pháp mua sắm mới và ký kết hợp tác phát triển vùng nguyên liệu. Sự kiện đồng thời ra mắt Cộng đồng Thương hiệu Lan tỏa và Content Tích cực, kết nối doanh nghiệp, hợp tác xã với nghệ sĩ và người sáng tạo nội dung để mở rộng thị trường nông sản.
Hải Phòng: Trên hành trình khẳng định vị thế khu du lịch quốc gia Cát Bà

Hải Phòng: Trên hành trình khẳng định vị thế khu du lịch quốc gia Cát Bà

Phiên làm việc giữa Hội đồng thẩm định Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam và UBND đặc khu Cát Hải vào sáng 5/11/2026 đánh dấu bước chuyển mình mang tính chiến lược trong lộ trình định vị thương hiệu du lịch Cát Bà. Vượt lên trên khuôn khổ của một buổi kiểm tra hồ sơ nghiệp vụ, sự kiện này chính là kỳ đánh giá quan trọng đối với hạ tầng kết nối, hệ thống dịch vụ và năng lực quản trị hệ sinh thái biển đảo của thành phố Hải Phòng. Việc hướng tới danh hiệu "Khu du lịch quốc gia" sẽ đóng vai trò như đòn bẩy thể chế mạnh mẽ, giúp Cát Bà bứt phá từ mô hình phát triển mở rộng sang không gian du lịch xanh, đẳng cấp và bền vững.
Kết nối nguồn lực phát triển nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn

Kết nối nguồn lực phát triển nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn

Từ nhu cầu thực tế của nông dân Đồng bằng sông Cửu Long, hội thảo “Thảo luận chiến lược hợp tác trong lĩnh vực xâm nhập mặn, thích ứng và phát triển nông nghiệp bền vững tại Việt Nam” diễn ra ngày 5/11 tại Hà Nội, tập trung thảo luận các ưu tiên hợp tác về dữ liệu, quản lý đất và nước, kỹ thuật canh tác, tài chính và thị trường. Các đề xuất hướng tới đưa giải pháp thích ứng với xâm nhập mặn vào thực tiễn sản xuất, bảo đảm sinh kế cho nông dân Đồng bằng sông Cửu Long.
Hải Phòng: Đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị công

Hải Phòng: Đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị công

Chiều 4/11, Ban Tổ chức Trung ương tổ chức Hội nghị tập huấn vận hành Cổng kê khai, tổng hợp vị trí việc làm trực tuyến. Hội nghị được kết nối thông suốt từ điểm cầu Trung ương đến các điểm cầu cấp tỉnh và cấp xã, thể hiện quyết tâm chính trị cao độ trong việc số hóa toàn diện công tác tổ chức cán bộ trên phạm vi toàn quốc.
PVFCCo - Phú Mỹ mở rộng hệ sinh thái sản phẩm, đón đầu xu hướng nông nghiệp xanh

PVFCCo - Phú Mỹ mở rộng hệ sinh thái sản phẩm, đón đầu xu hướng nông nghiệp xanh

Từ nền tảng sản xuất phân bón truyền thống, Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo - Phú Mỹ) đang từng bước mở rộng danh mục sản phẩm theo hướng đa dạng hóa, phát triển phân bón hữu cơ, sinh học, sản phẩm chuyên dụng và hóa chất có giá trị gia tăng cao. Cùng với việc mở rộng thị trường xuất khẩu, chiến lược này không chỉ tạo thêm động lực tăng trưởng cho doanh nghiệp mà còn góp phần đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền nông nghiệp hiện đại, hướng tới hiệu quả và phát triển bền vững.
Canh tác hữu cơ bắt đầu từ sức khỏe của đất

Canh tác hữu cơ bắt đầu từ sức khỏe của đất

Muốn chuyển đổi sang canh tác hữu cơ, người sản xuất cần tổ chức lại cách chăm sóc đất, cung cấp dinh dưỡng và quản lý dịch hại. Năm nhóm kỹ thuật nền tảng dưới đây giúp xây dựng hệ thống sản xuất phù hợp với điều kiện đồng ruộng và yêu cầu của tiêu chuẩn áp dụng.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Phụ nữ xã Vinh Lộc ủ phân hữu cơ IMO, sẵn sàng cho vụ rau mới

Phụ nữ xã Vinh Lộc ủ phân hữu cơ IMO, sẵn sàng cho vụ rau mới

Phụ nữ xã Vinh Lộc (Tp. Huế) ủ phân hữu cơ IMO, tận dụng phụ phẩm, hướng đến nông nghiệp an toàn, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững...
Nâng cao năng lực sản xuất nông nghiệp cho 150 học viên tại Tuyên Quang

Nâng cao năng lực sản xuất nông nghiệp cho 150 học viên tại Tuyên Quang

Trung tâm Khuyến nông tỉnh Tuyên Quang tổ chức tập huấn kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi an toàn sinh học cho 150 học viên tại 12 địa phương, góp phần chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp tuần hoàn, an toàn và bền vững.
Đắk Lắk khai thác hiệu quả phụ phẩm chăn nuôi để phát triển phân bón hữu cơ

Đắk Lắk khai thác hiệu quả phụ phẩm chăn nuôi để phát triển phân bón hữu cơ

UBND tỉnh Đắk Lắk yêu cầu rà soát toàn diện tình hình hoạt động các dự án chăn nuôi trên địa bàn, đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội, việc sử dụng tài nguyên và tác động môi trường. Tỉnh định hướng phát triển ngành chăn nuôi theo chuỗi giá trị khép kín, đẩy mạnh chế biến sâu, ứng dụng công nghệ cao và kinh tế tuần hoàn, hướng đến nâng cao giá trị gia tăng và phát triển nông nghiệp bền vững.
Phụ nữ Đan Điền lan tỏa mô hình xử lý rác hữu cơ bằng vi sinh IMO

Phụ nữ Đan Điền lan tỏa mô hình xử lý rác hữu cơ bằng vi sinh IMO

Phụ nữ xã Đan Điền duy trì mô hình xử lý rác hữu cơ bằng vi sinh IMO, thúc đẩy phân loại rác tại nguồn, bảo vệ môi trường, lan tỏa lối sống xanh trong cộng đồng
Cần Thơ đẩy mạnh mô hình sử dụng phân bón hữu cơ

Cần Thơ đẩy mạnh mô hình sử dụng phân bón hữu cơ

Cần Thơ đặt mục tiêu đến năm 2030, ít nhất 80% số xã, phường có sản xuất chủ lực lúa, cây ăn quả và rau màu xây dựng mô hình sử dụng phân bón hữu cơ gắn với chuỗi giá trị. Đến năm 2050, thành phố phấn đấu có 50% diện tích trồng trọt sử dụng phân bón hữu cơ và 80% nguồn nguyên liệu sẵn có được sử dụng để sản xuất phân bón hữu cơ.
Phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp theo hướng ứng dụng, hiệu quả và bền vững

Phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp theo hướng ứng dụng, hiệu quả và bền vững

Thực hiện Quyết định số 1466/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh Lâm Đồng vừa ban hành Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường giai đoạn 2026 - 2035, tầm nhìn đến năm 2045. Đây được xem là bước đi chiến lược nhằm nâng tầm giá trị nông sản chủ lực, phát triển nông nghiệp tuần hoàn, hữu cơ và bền vững, phù hợp với lợi thế của thủ phủ rau, hoa, nông sản công nghệ cao của cả nước.
Lâm Đồng đề nghị bố trí đơn vị giám định sinh vật gây hại tại cửa khẩu BuPrăng và Đăk Peur

Lâm Đồng đề nghị bố trí đơn vị giám định sinh vật gây hại tại cửa khẩu BuPrăng và Đăk Peur

Việc thay đổi, gián đoạn các tuyến vận chuyển sau sáp nhập đang gây khó khăn cho việc gửi mẫu giám định sinh vật gây hại tại hai cửa khẩu BuPrăng và Đăk Peur, ảnh hưởng đến thời gian cấp giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật và thông quan hàng hóa nhập khẩu.
Nâng giá trị chăn nuôi từ chất lượng thức ăn và an toàn sinh học

Nâng giá trị chăn nuôi từ chất lượng thức ăn và an toàn sinh học

Sau hơn ba năm đưa sản phẩm ra thị trường, Công ty TNHH Sản xuất Thức ăn chăn nuôi Thành Đô cho biết chất lượng thức ăn của doanh nghiệp được khách hàng đánh giá tốt và duy trì ổn định. Trên nền tảng dây chuyền tự động hóa, nguyên liệu đầu vào được kiểm soát cùng dịch vụ tư vấn trực tiếp tại trang trại, công ty hướng tới tối ưu giá thành, giảm rủi ro dịch bệnh và nâng cao hiệu quả chăn nuôi.
FDA cho phép sử dụng ivermectin để phòng ruồi giòi ở gia súc

FDA cho phép sử dụng ivermectin để phòng ruồi giòi ở gia súc

Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) vừa cấp phép sử dụng khẩn cấp Bimectin, thuốc tiêm ivermectin, nhằm phòng ngừa nhiễm ruồi giòi Tân Thế giới trên gia súc. Động thái được đưa ra trong bối cảnh số ca nhiễm được xác nhận tại Hoa Kỳ đã lên 47 trường hợp.
Hiệu quả từ mô hình nuôi vịt thương phẩm hướng thịt an toàn sinh học

Hiệu quả từ mô hình nuôi vịt thương phẩm hướng thịt an toàn sinh học

Trước áp lực chi phí đầu vào ngày càng tăng và yêu cầu bảo vệ môi trường trong chăn nuôi ngày càng cao, việc chuyển đổi từ phương thức chăn nuôi truyền thống sang chăn nuôi an toàn sinh học đang trở thành hướng đi phù hợp, giúp nông hộ kiểm soát dịch bệnh, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Nông dân Hải Phòng thu hơn 400 triệu đồng/ha mỗi năm nhờ bón phân gà ủ mục cho ổi

Nông dân Hải Phòng thu hơn 400 triệu đồng/ha mỗi năm nhờ bón phân gà ủ mục cho ổi

Chuyển đổi hữu cơ từ diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang trồng ổi lê Đài Loan , nhiều hộ dân tại TP. Hải Phòng không chỉ nâng cao chất lượng nông sản mà còn thu về hơn 400 triệu đồng/ ha/năm, gấp từ 5 đến 7 lần so với sản xuất lúa truyền thống.
Cải tạo đất đầu vụ, chủ động hạn chế ngộ độc phèn cho lúa

Cải tạo đất đầu vụ, chủ động hạn chế ngộ độc phèn cho lúa

Chủ động cải tạo đất đầu vụ, giúp đất hạn chế ngộ độc phèn, giảm chi phí, nâng sức khỏe cây lúa và hướng tới sản xuất bền vững trên vùng đất phèn.
XEM THÊM
phu-my
dam-ca-mau-15-nam-vi-hoa
cuoc-thi-viet
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính