![]() |
| Ứng dụng công nghệ sinh học góp phần phát triển nông nghiệp xanh, tuần hoàn, bền vững và nâng cao năng lực bảo vệ môi trường. Ảnh minh họa |
Cụ thể, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đã ký Quyết định số 1466/QĐ-TTg ngày 31/7/2026, phê duyệt Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường.
Kế hoạch xác định công nghiệp sinh học có vai trò nền tảng quan trọng, dẫn dắt đổi mới mô hình tăng trưởng của ngành nông nghiệp và môi trường trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Thông qua việc làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp và sản phẩm có sức cạnh tranh cao, Việt Nam hướng tới bảo đảm tự chủ về công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường; đồng thời đóng góp vào tăng trưởng của ngành, tăng trưởng kinh tế, quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế.
Thay thế ít nhất 50% sản phẩm công nghệ sinh học nhập khẩu vào năm 2030
Trong giai đoạn 2026 - 2030, Kế hoạch tập trung nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các công nghệ chiến lược, gồm công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến, công nghệ di truyền, công nghệ tế bào, chọn giống chính xác, chọn giống theo hệ gen cùng các công nghệ liên quan.
Nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược được ưu tiên gồm giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản thế hệ mới; vắc-xin; bộ sinh phẩm chẩn đoán; chế phẩm sinh học thế hệ mới; phân bón hữu cơ vi sinh; thuốc sinh học; chế phẩm bảo quản nông sản và xử lý môi trường sử dụng trong chăn nuôi, thú y, thủy sản, trồng trọt và bảo vệ thực vật.
Kế hoạch cũng chú trọng công nghệ bảo quản, chế biến sâu đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu, phục vụ các lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật, chăn nuôi và thú y, thủy sản và kiểm ngư, lâm nghiệp và kiểm lâm, bảo tồn đa dạng sinh học; từng bước thay thế sản phẩm có nguồn gốc hóa học và sản phẩm nhập khẩu.
Cùng với nghiên cứu và phát triển sản phẩm, Việt Nam sẽ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đủ khả năng làm chủ, tiếp nhận, giải mã, ứng dụng và chuyển giao công nghệ mới, công nghệ tiên tiến, công nghệ chiến lược ở quy mô công nghiệp.
Đến năm 2030, ít nhất 5 phòng thí nghiệm trọng điểm và 5 phòng thí nghiệm chuyên ngành sẽ được xây dựng, nâng cấp với cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, đạt chuẩn quốc tế, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học ở quy mô công nghiệp.
Kế hoạch đặt mục tiêu quy mô đầu tư và quy mô tăng trưởng của doanh nghiệp công nghiệp sinh học tăng 50%; sản phẩm công nghệ sinh học trong nước thay thế ít nhất 50% sản phẩm nhập khẩu; công nghiệp sinh học nông nghiệp và môi trường đóng góp 7% giá trị gia tăng của ngành công nghiệp sinh học.
Hướng tới làm chủ công nghệ chỉnh sửa gen
Trong giai đoạn 2031 - 2035 và tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu làm chủ công nghệ sinh học thế hệ mới, công nghệ sinh học chiến lược và công nghệ chỉnh sửa gen; ứng dụng các công nghệ này để tạo ra sản phẩm quy mô công nghiệp, cung ứng cho thị trường trong nước và xuất khẩu các sản phẩm chất lượng, an toàn.
Hệ thống trang thiết bị và nguồn nhân lực tiếp tục được tăng cường để đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, tiếp nhận, ứng dụng, chuyển giao công nghệ mới và công nghệ tiên tiến ở quy mô công nghiệp. Cơ chế, chính sách cũng được hoàn thiện nhằm phát triển công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế - kỹ thuật, hỗ trợ doanh nghiệp thương mại hóa sản phẩm và vươn lên nhóm dẫn đầu khu vực châu Á.
Kế hoạch hướng đến hình thành và phát triển thị trường công nghệ sinh học nông nghiệp và môi trường; góp phần đưa Việt Nam trở thành quốc gia có nền công nghiệp sinh học phát triển, là trung tâm sản xuất, dịch vụ thông minh về công nghệ sinh học và thuộc nhóm dẫn đầu khu vực châu Á.
Đến năm 2045, công nghiệp sinh học được kỳ vọng trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng của lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. Quy mô đầu tư và tăng trưởng của doanh nghiệp công nghiệp sinh học đặt mục tiêu tăng 70%; các sản phẩm được tạo ra từ Kế hoạch thay thế tối thiểu 60% sản phẩm nhập khẩu cùng loại; đóng góp 15% giá trị gia tăng của ngành công nghiệp sinh học.
Phát triển giống, chế phẩm sinh học phục vụ nông nghiệp hữu cơ
Kế hoạch đề ra sáu nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Trước hết là phát triển khoa học và công nghệ phục vụ tăng trưởng ngành nông nghiệp và môi trường.
Đối với trồng trọt và lâm nghiệp, các nhiệm vụ nghiên cứu sẽ tập trung ứng dụng công nghệ sinh học để cải tiến những tính trạng quý trên các loại cây trồng nông, lâm nghiệp chủ lực; nâng cao khả năng chống chịu dịch hại, giá trị kinh tế và khả năng nhân rộng trong sản xuất hàng hóa phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu.
Việt Nam sẽ phát triển, ứng dụng và làm chủ công nghệ gen thế hệ mới, công nghệ chỉnh sửa gen, công nghệ tế bào trong nghiên cứu chọn tạo giống cây trồng có tính trạng tốt, năng suất và chất lượng vượt trội, thích ứng với biến đổi khí hậu; đồng thời phát triển chế phẩm sinh học phòng, chống dịch hại.
Kế hoạch đặt ra yêu cầu làm chủ công nghệ nhân giống vô tính đối với một số cây trồng nông, lâm nghiệp ở quy mô công nghiệp, qua đó nâng cao năng suất, chất lượng, giảm giá thành và đáp ứng nhu cầu sản xuất trong nước, xuất khẩu.
Các công nghệ sau thu hoạch, chế phẩm sinh học thế hệ mới, bộ sinh phẩm chẩn đoán, giám định và quản lý sinh vật gây hại cũng được ưu tiên. Đáng chú ý, công nghệ sinh học sẽ được ứng dụng để chẩn đoán độ phì nhiêu, sức khỏe đất trồng trọt, chất lượng nước tưới và môi trường, phục vụ nông nghiệp an toàn và nông nghiệp hữu cơ.
Một hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu mã vạch ADN đối với nguồn gen di truyền bản địa sẽ được xây dựng, làm cơ sở cho việc bảo tồn, khai thác, phục tráng, phát triển, bảo hộ thương hiệu và chỉ dẫn địa lý đối với các nhóm sản phẩm đặc sản của Việt Nam.
Đối với vật nuôi, thủy sản và thú y, Kế hoạch ưu tiên làm chủ công nghệ gen thế hệ mới, công nghệ chỉnh sửa gen và các công nghệ chiến lược để sản xuất bộ sinh phẩm phát hiện nhanh, kiểm định, kiểm dịch và đánh giá chất lượng con giống. Các giống vật nuôi, thủy sản chủ lực sẽ được chọn tạo theo hướng tích hợp nhiều đặc tính ưu việt như năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu dịch bệnh và thích ứng với biến đổi khí hậu, điều kiện môi trường bất lợi.
Các nhiệm vụ nghiên cứu còn tập trung phát triển vắc-xin, chế phẩm sinh học và sản phẩm sinh học phục vụ giám sát, chẩn đoán, xét nghiệm, phòng, chống dịch bệnh; kiểm soát dư lượng chất cấm trong thực phẩm có nguồn gốc động vật; nâng cao sức đề kháng, hiệu quả sử dụng dinh dưỡng của vật nuôi, thủy sản; giám sát, cảnh báo và phòng, chống kháng thuốc.
Trong khâu bảo quản, chế biến và sau thu hoạch, công nghệ hiện đại cùng các bộ sinh phẩm sẽ được ứng dụng để kiểm định, đánh giá an toàn và chất lượng thực phẩm; phát hiện tác nhân gây bệnh và các yếu tố làm suy giảm chất lượng nông sản. Công nghệ tạo chế phẩm sinh học cũng được phát triển nhằm nâng cao giá trị gia tăng, tận dụng hiệu quả phụ phẩm và kéo dài thời gian bảo quản nông sản chủ lực.
Đầu tư phòng thí nghiệm, đào tạo nhân lực chất lượng cao
Nhóm nhiệm vụ thứ hai là xây dựng và phát triển tiềm lực công nghiệp sinh học. Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ đầu tư tập trung để xây dựng, nâng cấp và vận hành 5 phòng thí nghiệm trọng điểm, gồm phòng thí nghiệm công nghệ gen và công nghệ tế bào thực vật; công nghệ gen và công nghệ tế bào động vật chăn nuôi; công nghệ gen và công nghệ tế bào động vật thủy sản; thú y, chẩn đoán, xét nghiệm bệnh và kiểm tra chất lượng vắc-xin, chế phẩm sinh học; công nghệ vi sinh vật, enzym và protein.
Đến năm 2045, cả 5 phòng thí nghiệm được định hướng đạt chuẩn quốc tế, trở thành các phòng thí nghiệm tham chiếu quốc gia trong từng lĩnh vực, hỗ trợ làm chủ công nghệ và đưa sản phẩm công nghệ sinh học vào sản xuất, kinh doanh, thương mại trong và ngoài nước.
Kế hoạch đồng thời yêu cầu tăng cường trang thiết bị cho ít nhất 5 phòng thí nghiệm chuyên ngành thuộc các viện nghiên cứu, trường đại học theo vùng; thu hút các nguồn lực để xây dựng trung tâm thí nghiệm, kiểm định chất lượng nông, lâm sản và thủy sản, đánh giá an toàn sinh học đạt tiêu chuẩn quốc tế hoặc được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn phòng thí nghiệm được công nhận.
Danh mục nhiệm vụ kèm theo Quyết định đặt mục tiêu trong giai đoạn 2026 - 2035 tạo ra từ 10 đến 15 giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản thế hệ mới có năng suất cao, chất lượng tốt, kháng bệnh, thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải; phát triển từ 5 đến 10 vắc-xin, chế phẩm sinh học thế hệ mới và chuyển giao, nhân rộng vào thực tiễn.
Trong cùng giai đoạn, Kế hoạch đặt mục tiêu đào tạo 500 cán bộ, nghiên cứu viên trình độ cao về công nghệ sinh học và 2.000 lượt kỹ thuật viên, cán bộ quản lý. Việc đào tạo được gắn với nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho doanh nghiệp và địa phương; đồng thời hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh theo mô hình liên kết “3 nhà”: Nhà quản lý, Nhà trường và Doanh nghiệp.
Hệ thống cơ sở dữ liệu và thông tin quốc gia về công nghệ sinh học nông nghiệp và môi trường cũng sẽ tiếp tục được đầu tư, bảo đảm cung cấp, cập nhật và chia sẻ những thông tin cơ bản, mới nhất giữa các cơ quan, đơn vị, tổ chức và cán bộ làm việc trong lĩnh vực này.
Hình thành chuỗi nghiên cứu, sản xuất và kinh doanh
Nhóm nhiệm vụ thứ ba tập trung hình thành và phát triển doanh nghiệp công nghiệp sinh học ở quy mô công nghiệp trong các lĩnh vực giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản chủ lực; phân hữu cơ, phân hữu cơ vi sinh; thuốc bảo vệ thực vật sinh học; chế phẩm sinh học xử lý môi trường; thức ăn chăn nuôi và các sản phẩm phục vụ nông nghiệp an toàn, nông nghiệp hữu cơ.
Các doanh nghiệp cũng được khuyến khích phát triển chế phẩm sinh học phục vụ bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; vắc-xin phòng bệnh cho vật nuôi, thủy sản; thuốc thú y sinh học; bộ sinh phẩm chẩn đoán, xét nghiệm, giám sát dịch bệnh, dịch hại và kiểm soát dư lượng chất cấm.
Việc phát triển công nghiệp sinh học sẽ được tổ chức theo chuỗi đồng bộ từ nghiên cứu, sản xuất đến kinh doanh. Cơ chế liên kết giữa doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh quy mô công nghiệp với các tổ chức nghiên cứu và chuyên gia đầu ngành được tăng cường; doanh nghiệp được hỗ trợ tiếp cận, hợp tác nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa sản phẩm.
Danh mục nhiệm vụ kèm theo Quyết định xác định mục tiêu số doanh nghiệp ứng dụng công nghệ sinh học tăng tối thiểu 50% trong giai đoạn 2026 - 2035, qua đó góp phần hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của ngành.
Hoàn thiện chính sách, mở rộng hợp tác quốc tế
Nhóm nhiệm vụ thứ tư là rà soát, bổ sung cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích nghiên cứu, phát triển, chuyển giao và ứng dụng công nghệ sinh học; thu hút, đa dạng hóa nguồn lực đầu tư; trọng dụng nhân tài và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển công nghiệp sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
Kế hoạch yêu cầu hoàn thiện chính sách, quy định pháp luật về quản lý an toàn sinh học phù hợp với các cam kết quốc tế; xây dựng và thực thi các ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng; hỗ trợ chuyển giao, nhập khẩu công nghệ, bí quyết công nghệ và phát triển thị trường công nghệ tiên tiến từ nước ngoài.
Cùng với đó là nghiên cứu cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong một số lĩnh vực đặc thù; hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia; xây dựng khung đánh giá, quản lý rủi ro đối với sản phẩm công nghệ sinh học; chuẩn hóa hệ thống giám định, phát hiện sinh vật biến đổi gen; thiết lập cơ chế giám sát sau cấp phép, xử lý sự cố và công khai thông tin.
Về hợp tác quốc tế, Việt Nam sẽ tăng cường hợp tác song phương, đa phương với các tổ chức quốc tế và các quốc gia có nền công nghiệp sinh học tiên tiến; đẩy mạnh nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao công nghệ, dây chuyền sản xuất và thiết bị giữa viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp trong nước với đối tác nước ngoài.
Kế hoạch cũng đặt ra yêu cầu có chính sách mua, tiếp nhận, chuyển giao và trao đổi các công nghệ thế hệ mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, từng bước làm chủ và ứng dụng vào sản xuất hàng hóa quy mô công nghiệp tại Việt Nam.
Nhóm nhiệm vụ cuối cùng là truyền thông nâng cao nhận thức về vai trò của công nghiệp sinh học; phổ biến kiến thức, thành tựu khoa học và công nghệ mới; tổ chức hoạt động khuyến nông, khuyến công, xây dựng mô hình trình diễn, tập huấn cho người dân và doanh nghiệp; khuyến khích sử dụng sản phẩm công nghiệp sinh học trong nước và xây dựng thương hiệu Việt Nam.
Khuyến khích doanh nghiệp và đầu tư theo hình thức công tư
Kinh phí thực hiện Kế hoạch được bảo đảm từ ngân sách nhà nước, vốn doanh nghiệp, vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay của các tổ chức tín dụng, tài trợ quốc tế và các nguồn vốn huy động hợp pháp khác. Trong đó, Nhà nước khuyến khích nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp và đầu tư theo hình thức đối tác công tư.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Một Ban Điều hành sẽ được thành lập, do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường làm Trưởng ban.
Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp phát triển khoa học, công nghệ, đầu tư phòng thí nghiệm và xây dựng cơ chế hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao công nghệ. Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Bộ Công Thương tham gia xây dựng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thương mại tiêu thụ sản phẩm. Bộ Tài chính chủ trì bố trí kinh phí theo quy định.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố căn cứ nội dung Kế hoạch và điều kiện thực tế để xây dựng, ban hành chương trình, kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường giai đoạn 2026 - 2035, tầm nhìn đến năm 2045 trên địa bàn.
Quyết định số 1466/QĐ-TTg có hiệu lực từ ngày ký và thay thế Quyết định số 429/QĐ-TTg ngày 24/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp đến năm 2030.
Cỏ voi (miscanthus giganteus) đang ngày càng thu hút sự quan tâm của giới công nghiệp Pháp. Với năng suất cao và đặc tính thân ... |
Năm 2024, diện tích cây trồng công nghệ sinh học toàn cầu đạt 218,7 triệu ha, mức cao nhất từ trước đến nay, cùng xu ... |
Tỉnh Vĩnh Long tiếp tục cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, phát triển bền vững với hơn 85.600 ha sản xuất ... |
Bèo hoa dâu (Azolla) là giải pháp sinh học giúp cố định đạm, cải tạo đất, tăng năng suất cây trồng và giảm phát thải ... |
Trong sản xuất cây ăn quả hữu cơ, chế phẩm sinh học đang được xem là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng suất ... |