Thứ sáu 27/03/2026 16:37Thứ sáu 27/03/2026 16:37 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Việt Nam: Mục tiêu phát thải ròng carbon bằng 0 vào năm 2050

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển, băng quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định tính bằng thập kỷ hay hàng triệu năm.
Việt Nam: Mục tiêu phát thải ròng carbon bằng 0 vào năm 2050
Hạn hán làm cạn kiệt nguồn nước sinh hoạt và tưới tiêu, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền nông nghiệp của nhiều nước - Ảnh minh họa.

Sự biển đổi có thể là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình. Sự biến đổi khí hậu có thể giới hạn trong một vùng nhất định hay có thể xuất hiện trên toàn trái đất. Trong những năm gần đây, đặc biệt trong ngữ cảnh chính sách môi trường, biến đổi khí hậu thường đề cập tới sự thay đổi khí hậu hiện nay, được gọi chung bằng hiện tượng nóng lên toàn cầu. Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái Đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính (Green house gas), các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác.

Định nghĩa chung nhất cho sự biến đổi khí hậu là sự thay đổi các đặc điểm mang tính thống kê của hệ thống khí hậu khi xét đến những chu kỳ dài hoặc hàng thập kỷ hoặc lâu hơn, mà không kể đến các nguyên nhân. Theo đó, những thay đổi bất thường trên những chu kỳ ngắn hơn một vài thập kỷ, như El Niño, không thể hiện sự thay đổi khí hậu. Thuật ngữ này đôi khi được sử dụng để nhắc đến những trường hợp đặc biệt của biến đổi khí hậu do tác động của hoạt động con người; ví dụ, trong Công ước Khung của Liên hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (United Nations Framework Convention on Climate Change) định nghĩa biến đổi khí hậu là "là sự thay đổi của khí hậu mà hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp do tác động của hoạt động con người dẫn đến thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu và ngoài ra là những biến thiên tự nhiên của khí hậu được quan sát trên một chu kỳ thời gian dài." Trong định nghĩa cuối thay đổi khí hậu đồng nghĩa với ấm lên toàn cầu.

Những nhân tố có thể làm cho sự biến đổi khí hậu xuất hiện là thay đổi bức xạ khí quyển, bao gồm các quá trình như biến đổi bức xạ mặt trời, độ lệch quỹ đạo của Trái Đất, quá trình kiến tạo núi, kiến tạo trôi dạt lục địa và sự thay đổi nồng độ khí nhà kính. Nhiều phản ứng khác nhau của môi trường về biến đổi khí hậu có thể tăng cường hoặc giảm bớt các biến đổi ban đầu. Một số thành phần của hệ thống khí hậu, chẳng hạn như các đại dương và chỏm băng, phản ứng chậm với biến đổi bức xạ mặt trời vì khối lượng lớn. Do đó, hệ thống khí hậu có thể mất hàng thế kỷ hoặc lâu hơn để phản ứng hoàn toàn với những biến đổi từ bên ngoài.

Đại dương là một nền tảng của hệ thống khí hậu. Những dao động ngắn hạn (vài năm đến vài thập niên) như El Niño, dao động thập kỷ Thái Bình Dương (Pacific decadal oscillation), và dao động bắc Đại Tây Dương (North Atlantic Installation), và dao động Bắc Cực (Arctic oscillation), thể hiện khả năng dao động hậu hơn là thay đổi khí hậu. Trong khoảng thời gian dài hơn, những thay đổi đối với các quá trình diễn ra trong đại dương như hoàn lưu muối nhiệt đóng vai trò quan trọng trong sự tái phân bố nhiệt trong đại dương trên thế giới.

Những biến đổi nhỏ về quỹ đạo Trái Đất gây ra những thay đổi về sự phân bố năng lượng mặt trời theo mùa trên bề mặt Trái Đất và cách nó được phân bố trên toàn cầu. Đó là những thay đổi rất nhỏ theo năng lượng mặt trời trung bình hàng năm trên một đơn vị diện tích; nhưng nó có thể gây biến đổi mạnh mẽ về sự phân bố các mùa và địa lý. Có 3 kiểu thay đổi quỹ đạo là thay đổi quỹ đạo lệch tâm của Trái Đất, thay đổi trục quay, và tiến động của trục Trái Đất. Kết hợp các yếu tố trên, chúng tạo ra các chu kỳ Milankovitch, là các yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến khí hậu và mối tương quan của chúng với các chu kỳ băng hà và gian băng, quan hệ của chúng với sự phát triển và thoái lui của Sahara, và đối với sự xuất hiện của chúng trong các địa tầng.

Núi lửa là một quá trình vận chuyển vật chất từ vỏ và lớp phủ của Trái Đất lên bề mặt của nó. Phun trào núi lửa, mạch nước phun, và suối nước nóng, là những ví dụ của các quá trình đó giải phóng khí núi lửa và hoặc các hạt bụi vào khí quyển. Phun trào đủ lớn để ảnh hưởng đến khí hậu xảy ra trên một số lần trung bình mỗi thế kỷ, và gây ra làm mát (bằng một phần ngăn chặn sự lây truyền của bức xạ mặt trời đến bề mặt Trái Đất) trong thời gian một vài năm. Các vụ phun trào của núi lửa Pinatubo vào năm 1991, là vụ phun trào núi lửa lớn thứ hai trên mặt đất của thế kỷ XX (sau vụ phun trào năm 1912 của núi lửa Novarupta) ảnh hưởng đến khí hậu đáng kể. Nhiệt độ toàn cầu giảm khoảng 0,5 °C (0.9 °F). Vụ phun trào của núi Tambora năm 1815 đã khiến không có một mùa hè trong một năm. Phần lớn các vụ phun trào lớn hơn xảy ra chỉ một vài lần mỗi trăm triệu năm, nhưng có thể gây ra sự ấm lên toàn cầu và tuyệt chủng hàng loạt.

Núi lửa cũng là một phần của chu kỳ carbon mở rộng. Trong khoảng thời gian rất dài (địa chất), chúng giải phóng khí cacbonic từ lớp vỏ Trái Đất và lớp phủ, chống lại sự hấp thu của đá trầm tích và bồn địa chất khác dioxide carbon. Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ ước tính rằng các hoạt động của con người tạo ra nhiều hơn 100-300 lần số lượng khí carbon dioxide phát ra từ núi lửa. Qua hàng triệu năm, sự chuyển động của các mảng làm tái sắp xếp các lục địa và đại dương trên toàn cầu đồng thời hình thành lên địa hình bề mặt. Điều này có thể ảnh hưởng đến các kiểu khí hậu khu vực và toàn cầu cũng như các dòng tuần hoàn khí quyển - đại dương.

Vị trí của các lục địa tạo nên hình dạng của các đại dương và tác động đến các kiểu dòng chảy trong đại dương. Vị trí của các biển đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát sự truyền nhiệt và độ ẩm trên toàn cầu và hình thành nên khí hậu toàn cầu. Một ví dụ về ảnh hưởng của kiến tạo đến sự tuần hoàn trong đại dương là sự hình thành eo đất Panama cách đây khoảng 5 triệu năm, đã làm dừng sự trộn lẫn trực tiếp giữa Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Đều này có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến các chế độ động lực học của đại dương của hải lưu Gulf Stream và đã làm cho bắc bán cầu bị phủ băng.Trong suốt kỷ Cacbon, khoảng 300 đến 365 triệu năm trước, hoạt động kiến tạo mảng có thể đã làm tích trữ một lượng lớn cacbon và làm tăng băng hà. Các dấu hiệu địa chất cho thấy những kiểu tuần hoàn "gió mùa lớn" (megamonsoonal) trong suốt thời gian tồn tại của siêu lục địa Pangaea, và từ mô hình khí hậu người ta cho rằng sự tồn tại của siêu lục địa đã dẫn đến việc hình thành gió mùa.

Trong hoàn cảnh biến đổi khí hậu, các yếu tố do con người tạo ra cũng ảnh hưởng đến khí hậu. Quan điểm khoa học về biến đổi khí hậu được nhiều người đồng ý là "khí hậu đang thay đổi và những thay đổi này một phần lớn do tác động của con người." Việc chạy đua các phát triển công nghệ, con người đã biến hệ sinh thái thích nghi vốn có, thành một thế giới mà hệ sinh thái động vật và thực vật dần dần thu hẹp. Một số loài đã hoàn toàn biến mất, và một số có nguy cơ tuyệt chủng, sông ngòi bị ngăn đập. Rác và chất thải nhựa do con người thải ra cũng góp phần ô nhiễm, và khí thải từ các lò phản ứng hạt nhân. Do đó, các cuộc thảo luận đang hướng vào 2 cách, một là giảm tác động của con người và tìm cách thích nghi với sự biến đổi đã từng xảy ra trong quá khứ và được dự kiến xảy ra trong tương lai.

Vấn đề được quan tâm nhất trong yếu tố nhân sinh là việc tăng thêm lượng khí CO2 do đốt nhiên liệu hóa thạch, tạo thành các sol khí tồn tại trong khí quyển và sản xuất xi măng. Các yếu tố khác như sử dụng đất, sự suy giảm ôzôn và phá rừng, cũng góp phần quan trọng làm ảnh hưởng đến khí hậu, vi khí hậu. Dấu hiệu của sự thay đổi khí hậu được lấy từ nhiều nguồn khác nhau có thể được sử dụng để tái hiện lại khí hậu trong quá khứ. Những ghi chép toàn cầu hoàn chỉnh mang tính hợp lý về nhiệt độ bề mặt bắt đầu được ghi nhận từ giữa sau thế kỷ XIX. Đối với những giai đoạn trước đây, hầu hết đều là dấu hiệu ghi nhận gián tiếp - biến đổi khí hậu được suy ra từ những thay đổi proxy, các nhân tố phản ánh khí hậu như thảm thực vật, lõi băng, khí hậu thực vật, thay đổi mực nước biển và địa chất sông băng.

Biến đổi khí hậu trong thời gian gần đây có thể được ghi nhận từ những biến đổi tương ứng về các kiểu định cư và nông nghiệp. Dấu hiệu khảo cổ học, lịch sử thành văn và lịch sử truyền miệng có thể cung cấp hiểu biết về những biến đổi khí hậu trong quá khứ. Những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu cũng có liên hệ với sự sụp đổ của các nền văn minh. Sông băng được xem là một trong những đối tượng dự báo nhạy cảm nhất của biến đổi khí hậu. Kích thước của sông băng được xác định bởi sự cân bằng giữa lượng tuyết hòa vào và lượng tuyết tan ra. Khi nhiệt độ ấm lên, chiều dài sông băng lùi dần, trừ khi lượng tuyết tăng lên đủ bù vào lượng băng bị tan chảy; việc này cũng đúng cho điều ngược lại.

Sông băng mở rộng hơn và thu hẹp lại do sự thay đổi của tự nhiên lẫn sự tác động từ bên ngoài. Sự thay đổi về nhiệt độ, lượng tuyết rơi, lượng nước nằm giữa và dưới lớp băng có thể mang tính chất quyết định đến biến đổi của sông băng trong một khoảng thời gian đặc biệt. Do đó, một sông băng vốn hình thành từ nhiều sông băng nhỏ khác nhau phải tốn trung bình hàng thế kỉ hoặc thậm chí lâu hơn để tan ra bởi tác động của những biến đổi ngắn hạn của vùng. Chính vì vậy, lịch sử sông băng chứa đựng trong mình nó những thông tin có liên quan đến biến đổi khí hậu.

Việc thu thập tài liệu theo dõi và đánh giá sông băng trên thế giới đã được tiến hành từ những năm 1970, ban đầu chủ yếu dựa vào những bức ảnh trên không và bản đồ, nhưng ngày nay phụ thuộc vào các vệ tinh nhiều hơn. Việc đánh giá kết hợp này được thực hiện với hơn 100.000 sông băng bao phủ một diện tích khoảng 240.000 km², và ước tính sơ bộ cho thấy lượng băng bao phủ còn lại là khoảng 445.000 km². Tổ chức Giám sát Sông băng Thế giới (WGMS) thu thập dữ liệu hàng năm về mức độ lùi dần của sông băng và sự cân bằng lượng sông băng. Từ những dữ liệu này có thể nhận thấy sông băng trên toàn thế giới đã thu hẹp đáng kể, với sự lùi dần mạnh của những sông băng trong những năm 1940, có điều kiện ổn định hoặc phát triển trong những năm 1920 và 1970, và một lần nữa bắt đầu giảm từ giữa những năm 1980 đến nay.

Những quá trình biến đổi khí hậu lớn nhất từ giữa sau thế Pliocen (khoảng 3 triệu năm trước) thuộc các chu kỳ băng hà và gian băng. Giai đoạn gian băng hiện nay (thế Holocen) đã kéo dài khoảng 11.700 năm. Do băng lục địa và mực nước biển được định hình do thay đổi quỹ đạo, những phản ứng như tăng hoặc giảm các dải băng lục địa và thay đổi mực nước biển tạo nên khí hậu. Tuy nhiên, những thay đổi khác, bao gồm sự kiện Heinrich, sự kiện Dansgaard-Oeschger và Younger Dryas, là bằng chứng cho biết sự biến đổi băng cũng có thể ảnh hưởng đến khí hậu mà không liên quan gì đến ảnh hướng của quỹ đạo. Sông băng để lại sau nó băng tích có chứa các chất giá trị - có thể truy ngược để xác định được tuổi, bao gồm chất hữu cơ, thạch anh, và Kali - đánh dấu những giai đoạn sông băng tiến triển và rút lui. Tương tự, bằng các kỹ thuật địa lý đặc biệt nghiên cứu tro núi lửa, người ta có thể xác định được sự giảm diện tích bao phủ của sông băng qua việc xác định thời gian lắng xuống của đất hoặc các lớp riêng biệt của tephra - một loại tro núi lửa phun ra từ một vụ nổ.

Sự thay đổi về loài đại diện, sự phân bố và mức độ bao phủ của các thảm thực vật có thể xảy ra do biến đổi khí hậu, điều này rất dễ nhận thấy. Trong bất kỳ tình huống nào, một sự thay đổi khí hậu nhẹ cũng có thể dẫn đến tăng lượng mưa hoặc tuyết và tăng mức ấm áp, dẫn đến tăng trưởng thực vật được cải thiện và kéo theo việc hấp thụ nhiều CO2 trong không khí hơn. Tuy nhiên, những thay đổi triệt để hơn, mức độ lớn hơn hay tốc độ xảy ra nhanh hơn cũng có thể dẫn đến tác động lớn lên thực vật, nhiều loài nhanh chóng biến mất và trong mốt số trường hợp có thể xảy ra hiện tượng sa mạc hoá.

Các thông tin từ việc phân tích phần lõi băng khoan từ một khối băng như khối băng Nam Cực, có thể được sử dụng để cho thấy mối liên hệ giữa nhiệt độ và biến đổi mực nước biển toàn cầu. Không khí bị mắc kẹt ở dạng bong bóng trong băng cũng có thể cho biết những biến đổi nồng độ CO2 trong khí quyển từ quá khứ xa xôi, trước khi chịu ảnh hưởng từ môi trường hiện đại. Nghiên cứu các lõi băng sẽ đưa ra được những chỉ số quan trọng về sự thay đổi lượng CO2 qua hàng ngàn năm, và tiếp tục cung cấp những thông tin có giá trị về sự khác nhau giữa điều kiện không khí cổ xưa và hiện đại. Khí hậu thực vật là ngành phân tích các dạng vòng gỗ tăng trưởng của cây từ đó xác định biến đổi khí hậu từng xảy ra trong quá khứ. Những vòng lớn và dày cho biết cây đã trải qua giai đoạn phát triển đủ nước và màu mỡ. Trong khi những vòng mỏng, hẹp thể hiện thời gian cây hưởng lượng mưa thấp hơn và điều kiện lý tưởng để phát triển cũng kém hơn.

Phân tích phấn hoa là bộ môn khoa học hiện đại nghiên cứu về lĩnh vực hóa thạch ở kích thước tế bào, bao gồm cả phấn hoa. Phân tích phấn hoa được sử dụng để suy ra sự phân bố địa lý của các loài thực vật từng thay đổi theo điều kiện khí hậu khác nhau. Những nhóm thực vật khác nhau có hình dạng và cấu tạo bề mặt phấn hoa rất đặc thù. Do lớp ngoài của phấn hoa được cấu thành từ một lớp chất liệu có tính đàn hồi rất cao nên đã ngăn ngừa cho phần bên trong bị hư hại. Sự thay đổi trong các loại phấn hoa được tìm thấy từ những lớp trầm tích khác nhau - trong các hồ, đầm lầy hay vùng châu thổ - cho biết các thay đổi ở thế giới thực vật. Những thay đổi này thường là dấu hiệu của biến đổi khí hậu. Ví dụ như những nghiên cứu về phương pháp phân tích phấn hoa đã được sử dụng để theo dõi sự thay đổi ở các mẫu thực vật trong suốt kỷ băng hà thứ tư, và đặc biệt là trong thời kì băng giá nhất của kỉ băng hà cuối cùng.

Những loài bọ cánh cứng còn sót lại sống chủ yếu tại những vùng nước ngọt và trầm tích đất đai. Các loài bọ cánh cứng khác không có xu hướng được tìm thấy trong những điều kiện khí hậu khác nhau. Do giống bọ cánh cứng rất đa dạng với số lượng lớn và có cấu trúc di truyền không thay đổi đáng kể qua hàng ngàn năm, việc nghiên cứu dựa trên những loài bọ cánh cứng khác nhau sẽ đem lại kiến thức về phạm vi khí hậu hiện tại, xác định được tuổi của các trầm tích còn sót lại, từ đó có thể suy ra điều kiện khí hậu trong quá khứ.

Sự thay đổi mực nước biển toàn cầu trong nhiều thế kỷ qua đã được ước tính bằng cách sử dụng các máy đo thủy triều, các số liệu đo được đối chiếu trong thời gian dài để đưa ra một mực nước trung bình dài hạn. Gần đây, máy đo độ cao - kết hợp với sự định vị chính xác của các quỹ đạo vệ tinh - đã cung cấp một phương pháp đo sự thay đổi mực nước biển toàn cầu cải thiện hơn. Trước khi các công cụ đo lường máy móc được đưa vào sử dụng, các nhà khoa học đã xác định độ cao mực nước biển thông qua các dấu vết trên những rặng san hô, những lớp trầm tích ven biển, trên thềm biển, hạt trong đá vôi và những di tích khảo cổ còn sót lại gần bờ biển. Các phương pháp định tuổi có nhiều ưu điểm là phương pháp urani-thori và cacbon phóng xạ, còn phương pháp định tuổi hạt nhân vũ trụ đôi khi được áp dụng để xác định tuổi các bề mặt (thềm) đã trải qua sự giảm mực nước biển.

Mực nước biển đang dâng với tốc độ trung bình là 1,8 mm/năm trong thế kỷ qua. Mực nước biển dâng có thể do hiện tượng ấm lên toàn cầu - mà phần lớn là từ những tác động của con người. Điều này sẽ làm tăng mực nước biển trong tương lai về lâu dài. Nhiệt độ gia tăng làm nước giãn nở, đồng thời làm tan chảy các sông băng, núi băng và băng lục địa khiến lượng nước bổ sung vào đại dương tăng lên. Dự kiến, nhiệt độ tăng sẽ tiếp tục là nhân tố chủ yếu làm mực nước biển dâng trong thế kỷ tới. Tại Hội nghị biến đổi khí hậu của Liên Hợp quốc (COP26) vào tháng 11 năm 2021, Thủ tướng Chính phủ đã công bố một mục tiêu giảm lượng khí thải carbon của Việt Nam xuống mức ròng bằng 0 vào năm 2050. Để đạt được mục tiêu phát thải ròng carbon bằng 0 vào năm 2050, cần phải ưu tiên các nguồn năng lượng có giá cả phải chăng và bền vững về mặt xã hội./.

Bài liên quan

Trung Quốc đặt mục tiêu kỷ lục về an ninh lương thực trước bối cảnh biến động địa chính trị

Trung Quốc đặt mục tiêu kỷ lục về an ninh lương thực trước bối cảnh biến động địa chính trị

Trước nguy cơ gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu do xung đột tại Trung Đông và căng thẳng thương mại với Hoa Kỳ, Trung Quốc đang thúc đẩy chiến lược tăng sản lượng lương thực lên mức kỷ lục. Chính sách này cho thấy vai trò ngày càng then chốt của nông nghiệp trong đảm bảo an ninh kinh tế và ổn định xã hội đối với quốc gia có hơn 1,4 tỷ dân.
El Nino có thể trở lại năm 2026: Cảnh báo sớm và những kịch bản ứng phó toàn cầu

El Nino có thể trở lại năm 2026: Cảnh báo sớm và những kịch bản ứng phó toàn cầu

Các dự báo mới cho thấy El Nino có thể quay trở lại trong năm 2026 với cường độ mạnh, kéo theo nguy cơ thời tiết cực đoan và nhiệt độ toàn cầu tăng cao.
Thanh niên khởi nghiệp với nông nghiệp tuần hoàn

Thanh niên khởi nghiệp với nông nghiệp tuần hoàn

Từ trăn trở trước tình trạng biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn và hiệu quả sản xuất nông nghiệp chưa cao, chị Lê Võ Trúc Giang, đoàn viên xã Vĩnh Hựu, đã mạnh dạn xây dựng mô hình nông nghiệp tuần hoàn gắn với trồng chà là. Dù dự án mới đi được nửa chặng đường, chưa mang lại nguồn thu lớn, nhưng bước đầu cho thấy hướng đi bền vững, thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu và mở ra triển vọng cho thanh niên khởi nghiệp từ nông nghiệp.
Cảnh báo El Niño với xác suất 62% có thể tác động mạnh tới sản xuất nông nghiệp năm 2026

Cảnh báo El Niño với xác suất 62% có thể tác động mạnh tới sản xuất nông nghiệp năm 2026

Khả năng El Niño quay trở lại vào mùa hè 2026 đang gia tăng, với xác suất 62%, làm dấy lên lo ngại về biến động thời tiết cực đoan có thể ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và kế hoạch sản xuất nông nghiệp tại nhiều khu vực trên thế giới, đặc biệt là Hoa Kỳ.
ASEAN cần đồng bộ chính sách khí hậu và an ninh lương thực để ứng phó rủi ro dài hạn

ASEAN cần đồng bộ chính sách khí hậu và an ninh lương thực để ứng phó rủi ro dài hạn

Biến đổi khí hậu đang tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và chuỗi cung ứng thực phẩm tại Đông Nam Á, buộc các nước ASEAN phải điều chỉnh chính sách theo hướng tích hợp giữa mục tiêu khí hậu và an ninh lương thực. Các chuyên gia nhận định, dù đã có nhiều sáng kiến khu vực, mức độ phối hợp và năng lực triển khai giữa các quốc gia thành viên vẫn còn chênh lệch đáng kể.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Đánh thức giá trị bản địa, mở hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Lai Châu

Đánh thức giá trị bản địa, mở hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Lai Châu

Sáng 23/3, trong khuôn khổ chương trình kết nối hội viên và khảo sát vùng sản xuất hữu cơ tại tỉnh Lai Châu, đoàn công tác của Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam (VOAA) đã có chuyến khảo sát thực tế mô hình trồng lê và vùng chè tại phường Tân Phong, tỉnh Lai Châu. Từ câu chuyện ở vườn lê đến bài toán chuyển đổi canh tác tại đồi chè lâu năm, nhiều hướng mở đã được đặt ra cho phát triển nông nghiệp hữu cơ gắn với nâng giá trị sản phẩm và thị trường tiêu thụ.
Nghề nông ở Hoa Kỳ: Hiện đại, hiệu quả nhưng cũng đầy thách thức

Nghề nông ở Hoa Kỳ: Hiện đại, hiệu quả nhưng cũng đầy thách thức

Nông nghiệp từ lâu đã đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nước Mỹ. Dù là một trong những quốc gia công nghiệp và công nghệ hàng đầu thế giới, nhưng nông nghiệp vẫn là nền tảng vững chắc của nền kinh tế. Nghề nông ở Hoa Kỳ không chỉ đơn thuần là công việc trồng trọt, chăn nuôi mà còn là một ngành sản xuất hiện đại, áp dụng khoa học - công nghệ cao, góp phần bảo đảm an ninh lương thực trong nước và cung cấp nông sản cho nhiều quốc gia trên thế giới.
Tầm quan trọng của Organic Matter đối với cây trồng

Tầm quan trọng của Organic Matter đối với cây trồng

Trong nông nghiệp, khi nói đến độ màu mỡ của đất, người ta thường nhắc đến một yếu tố cốt lõi nhưng đôi khi bị xem nhẹ: chất hữu cơ. Đây chính là “linh hồn” của đất, quyết định đến khả năng nuôi dưỡng cây trồng một cách bền vững. Việc hiểu rõ vai trò của chất hữu cơ - hay Organic Matter (OM) - là nền tảng để xây dựng một nền nông nghiệp hiệu quả và thân thiện với môi trường.
Nuôi trồng thủy canh kết hợp trồng cây – nuôi cá (Aquaponics): Mô hình nông nghiệp sinh thái tuần hoàn

Nuôi trồng thủy canh kết hợp trồng cây – nuôi cá (Aquaponics): Mô hình nông nghiệp sinh thái tuần hoàn

Trong bối cảnh tài nguyên thiên nhiên ngày càng suy giảm, ô nhiễm môi trường gia tăng và nhu cầu về thực phẩm an toàn không ngừng tăng cao, các mô hình nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn đang trở thành xu hướng phát triển tất yếu. Một trong những mô hình tiêu biểu là nuôi trồng thủy canh kết hợp trồng cây – nuôi cá (Aquaponics). Đây là mô hình tích hợp giữa nuôi trồng thủy sản và trồng cây không dùng đất, tạo thành một hệ sinh thái khép kín, vừa nâng cao hiệu quả sản xuất, vừa thân thiện với môi trường.
Hành trình làm chủ công nghệ sản xuất phân compost tại Việt Nam

Hành trình làm chủ công nghệ sản xuất phân compost tại Việt Nam

Ngô Chí Thắng - Giám đốc Công ty TNHH Một Thành viên Liên hợp Khoa học - Công nghệ - Môi trường BIWASE - là một trong những nhà quản lý - kỹ sư tiêu biểu trong lĩnh vực môi trường đô thị và kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam.
Từ kiểm soát nguồn phát thải đến chuyển đổi mô hình phát triển cốt lõi của giảm phát thải

Từ kiểm soát nguồn phát thải đến chuyển đổi mô hình phát triển cốt lõi của giảm phát thải

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng trở thành thách thức toàn cầu, cụm từ “giảm phát thải” ngày càng được nhắc đến nhiều trong các chiến lược phát triển của các quốc gia, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế. Tuy nhiên, giảm phát thải không đơn thuần chỉ là cắt giảm lượng khí thải ra môi trường, mà sâu xa hơn, đó là quá trình chuyển đổi toàn diện về cách thức sản xuất, tiêu dùng và phát triển kinh tế. Hiểu đúng bản chất của giảm phát thải là điều kiện quan trọng để các quốc gia và doanh nghiệp xây dựng những giải pháp hiệu quả, hướng tới phát triển bền vững.
Tăng cường thu mua lúa gạo trong mùa vụ tránh “được mùa mất giá” cho nông dân

Tăng cường thu mua lúa gạo trong mùa vụ tránh “được mùa mất giá” cho nông dân

Lúa gạo từ lâu đã gắn bó mật thiết với đời sống kinh tế - xã hội của Việt Nam. Không chỉ là nguồn lương thực chính của hơn 100 triệu dân, lúa gạo còn là mặt hàng xuất khẩu quan trọng, đóng góp lớn cho tăng trưởng nông nghiệp và an ninh lương thực toàn cầu.
Nền kinh tế và đời sống sẽ ảnh hưởng thế nào khi giá điện và xăng dầu tăng

Nền kinh tế và đời sống sẽ ảnh hưởng thế nào khi giá điện và xăng dầu tăng

Trong nền kinh tế hiện đại, điện năng và xăng dầu được xem là hai loại “huyết mạch” của hoạt động sản xuất và đời sống. Hầu như mọi lĩnh vực từ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ đến sinh hoạt hằng ngày của người dân đều phụ thuộc vào nguồn năng lượng này. Vì vậy, mỗi khi giá điện hoặc giá xăng dầu biến động, nền kinh tế thường chịu những tác động dây chuyền, ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất, giá cả hàng hóa, sức mua của thị trường và tốc độ tăng trưởng kinh tế.
VOAA mở đăng ký lớp tập huấn Tiêu chuẩn cơ sở TCCS 01:2024/VOAA

VOAA mở đăng ký lớp tập huấn Tiêu chuẩn cơ sở TCCS 01:2024/VOAA

Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam vừa phát đi thông báo mở đăng ký lớp tập huấn “Tiêu chuẩn cơ sở của Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam - TCCS 01:2024/VOAA”, tổ chức trong 2 ngày 27 - 28/3/2026 tại Hà Nội. Chương trình nhằm phổ biến, hướng dẫn áp dụng bộ tiêu chuẩn tới hội viên và các tổ chức, cá nhân quan tâm đến sản xuất nông nghiệp hữu cơ, góp phần thúc đẩy phát triển lĩnh vực này theo hướng minh bạch, bài bản và bền vững.
Nông nghiệp xanh gắn với du lịch để phát triển kinh tế nông thôn

Nông nghiệp xanh gắn với du lịch để phát triển kinh tế nông thôn

Trong quá trình phát triển kinh tế gắn với yêu cầu bảo vệ môi trường và gìn giữ giá trị văn hóa bản địa, mô hình du lịch gắn với nông nghiệp xanh đang trở thành xu hướng được nhiều quốc gia và địa phương quan tâm. Việt Nam không nằm ngoài xu thế đó.
Hữu cơ hoá - Hướng đi bền vững cho nông nghiệp Tuyên Quang

Hữu cơ hoá - Hướng đi bền vững cho nông nghiệp Tuyên Quang

Nông nghiệp Tuyên Quang trước xu hướng hữu cơ hoá đang đứng trước những cơ hội lớn song cũng không ít thách thức. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, yêu cầu về an toàn thực phẩm ngày càng cao và sự dịch chuyển mạnh mẽ của thị trường tiêu dùng theo hướng xanh - sạch - bền vững, sản xuất nông nghiệp theo hướng hữu cơ không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là con đường nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản địa phương.
Gạo ruộng rươi Kiến Quốc - Tinh hoa từ hệ sinh thái tự nhiên

Gạo ruộng rươi Kiến Quốc - Tinh hoa từ hệ sinh thái tự nhiên

Nhắc đến vùng ven sông của huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng, nhiều người không chỉ nhớ đến đặc sản rươi nổi tiếng mà còn biết tới một sản phẩm nông nghiệp độc đáo - gạo ruộng rươi Kiến Quốc. Đây là loại gạo được trồng trên những thửa ruộng sinh thái đặc biệt, nơi con rươi sinh sống tự nhiên. Sự kết hợp giữa thiên nhiên, phương thức canh tác truyền thống và ý thức bảo vệ môi trường đã tạo nên một sản phẩm gạo sạch, giàu giá trị dinh dưỡng và mang đậm hương vị đồng quê Bắc Bộ.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính