Thứ sáu 26/06/2026 07:44Thứ sáu 26/06/2026 07:44 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập của sinh viên tại Học viện Hành chính và quản trị công

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Bài viết phân tích sự cần thiết của việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (Al) vào học tập của sinh viên, qua phân tích kết quả nghiên cứu về thực trạng ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập của sinh viên Học viện Hành chính và Quản trị công. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập của sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục đại học nói chung và sinh viên Học viện hành chính và quản trị công nói riêng.

Từ khóa: Trí tuệ nhân tạo; học tập; sinh viên; chuyển đổi số giáo dục, trí tuệ nhân tạo (Al); Học viện Hành chính và Quản trị công.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, Al được ví như “cơn hồng thủy” đang trở thành công cụ thiết yếu có tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Bởi nó không chỉ đơn thuần là những tiện ích công nghệ mà đang dần trở thành “người” đồng hành trong hành trình phát triển nhận thức của con người. Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị đã chỉ ra định hướng về chuyển đổi số toàn diện, ngày 03/6/2020 chính phủ ban hành phê duyệt Quyết định số 749/QĐ-TTg “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” với mục tiêu Việt Nam trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới [1,2]. Trong đó, khẳng định giáo dục và đào tạo là một trong những lĩnh vực cần được ưu tiên đổi mới [3] và việc ứng dung Al vào giáo dục - giúp chuyển đổi giáo dục từ mô hình giáo dục một chiều thụ động sang chủ động kiến tạo tri thức, Al không chỉ như một công cụ tra cứu mà còn hỗ trợ người học rèn luyện kỹ năng, sáng tạo tư duy. Theo đó, thông tư 02/2025/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ ra “Al là việc phát triển các hệ thống máy móc có khả năng thực hiện các nhiệm vụ đòi hỏi trí tuệ con người như học tập, suy luận và giải quyết vấn đề. Al tạo sinh (Generative Artificial Intelligence hay Gen AI) là lĩnh vực thuộc Al tập trung vào việc tạo ra dữ liệu mới như văn bản, hình ảnh, âm thanh, video hoặc mã nguồn lập trình dựa trên dữ liệu đầu vào đã được huấn luyện trước đó” [4]. Al trong học tập là việc phát triển các hệ thống máy móc thông minh có khả năng thực hiện các nhiệm vụ, yêu cầu như trí tuệ con người về học tập, suy luận và giải quyết vấn đề, cố gắng giúp người học phát triển khả năng hiểu, lập luận, phản biện và nâng cao hiệu quả giáo dục trong môi trường hiện đại.

Do vậy, ứng dụng Al trong học tập cho sinh viên là “việc sử dụng các công nghệ trí tuệ nhân tạo có chức năng về học tập, suy luận và giải quyết vấn đề để cải thiện quá trình học tập”. Trong đó tập trung vào nội dung cốt lõi (1) Nhận thức của sinh viên về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập - nền tảng định hướng toàn bộ hành vi ứng dụng; (2) Cá nhân hóa học tập - điều chỉnh nội dung, tốc độ và phong cách học theo đặc điểm riêng của từng người học; (3) Trợ lý học tập thông minh - hỗ trợ hỏi đáp, tổng hợp, viết lách và nghiên cứu học thuật; (4) Tối ưu hóa khả năng tiếp cận và tổng hợp kiến thức - giúp mọi người học (bao gồm những sinh viên có nhu cầu đặc biệt) xử lý, hệ thống hóa và khai thác thông tin hiệu quả hơn.

Học viện Hành chính và Quản trị công là cơ sở giáo dục đại học trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, là nơi chuyên đào tạo, nghiên cứu khoa học về hành chính, quản lý nhà nước, quản trị công; cung cấp luận cứ khoa học về cải cách hành chính, công vụ, …; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức… theo yêu cầu của Đảng, Nhà nước, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và nhu cầu của xã hội [5]. Trong tương lai nhiều sinh viên tại đây có thể tham gia vào hoạt động công vụ, do đó họ không chỉ được trang bị các kiến thức chuyên môn mà sinh viên cần phải hiểu và sử dụng Al một cách chủ động như: có khả năng đánh giá tính chính xác của thông tin Al cung cấp, biết cách đặt câu hỏi phù hợp và tư duy phản biện có kiểm chứng, phát triển những ý tưởng mà Al đưa ra,… từ đó biết tận dụng năng lực Al vào để giải quyết các vấn đề phức tạp trong trong thực thi công vụ - tiền đề của thế hệ cán bộ, công chức, viên chức tương lai trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam hùng cường.

2. Thực tiễn ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập của sinh viên Học viện Hành chính và Quản trị công

Như đã nêu ở trên việc ứng dụng Al trong học tập của sinh viên giúp cho hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học đem lại hiệu quả cao hơn, đáp ứng nhu cầu xã hội. Điều này được minh chứng thông qua một số kết quả đo lường của các chỉ số: nhận thức của sinh viên về Al trong học tập; cá nhân học học tập thông qua Al; Al như trợ lý học tập thông minh; tối ưu hóa khả năng học tập và tiếp cận kiến thức của 605 sinh viên tại Học viện Hành chính và Quản trị công trong đó: sinh viên chuyên ngành quản lý nhà nước chiếm 1/3 số lượng sinh viên được hỏi và 03 chuyên gia cụ thể như sau:

Về nhận thức của sinh viên về AI trong học tập:

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập của sinh viên tại Học viện Hành chính và quản trị công
Biểu đồ 1. Nhận thức của sinh viên về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập

Việc nhận thức được sự hữu ích và rủi ro của ứng dụng Al trong học tập, có 13% sinh viên cho rằng rất quan trọng, 16% cho là khá quan trọng, 29% thấy bình thường, 24% cho là ít quan trọng và 18% cho là không quan trọng; về kiến thức và kỹ năng của sinh viên về ứng dụng Al trong học tập, có 12% rất chắc cả về kiến thức và kỹ năng, 15% khá chắc chắn, 28% cảm thất chắc, 29% ít chắc chắn và 16% không chắc chắn; về việc nhà trường sau trang khi bị kiến thức về Al và ứng dụng Al của sinh viên vào học tập có 17% thấy rất cần thiết, 19% cho là khá cần thiết, 37% cho là cần thiết mức bình thường, 16% nhận thấy ít cấn thiết và 10% chưa nhận thấy cần thiết. Đồng thời, theo giảng viên Nguyễn Thị Lê chia sẻ: “Hiện nay, sinh viên Học viện Hành chính và Quản trị công đã có nhận thức rõ về lợi ích của ứng dụng Al trong học tập, biểu hiện thông qua quá trình học tập của họ như việc tìm họ kiếm tài liệu phục vụ nghiên cứu trước các chủ để chuẩn bị học; đặt câu hỏi và giải đáp câu hỏi về chủ để học tập trên giảng đường; kết quả làm bài tập thực hành và thực hiện các nghiên cứu khoa học…”. Qua đây có thể nhận thấy sinh viên Học viện về cơ bản đã nhận thức và ứng dụng được Al trong học tập.

Về cá nhân hóa học tập thông qua AI:

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập của sinh viên tại Học viện Hành chính và quản trị công
Biểu đồ 2. Cá nhân hóa quá trình học tập thông qua trí tuệ nhân tạo

Có 45% sinh viên ứng dụng Al xác định mục tiêu học tập cá nhân rất rõ ràng, 32% cá nhân hóa khá rõ, 11% bình thường, 8% chưa thực sự rõ và 4% chưa chưa rõ ràng; về ứng dụng Al gợi ý nội dung học tập, có 32% sử dụng gợi ý rất tốt, 46% cho là khá tốt, 12% cho rằng bình thường, 8% chưa được tốt và 3% không tốt; về ứng dụng Al để có phương pháp học tập, có 68% nhật thất rất tốt, 23% thấy khá tốt, 6% thấy bình thường, 2% chưa thực sự tốt và 1% không tốt khi sử dụng ứng dụng này. Điều này phản ánh bước chuyển từ mô hình “một kích cỡ cho tất cả các sinh viên” sang học tập cá thể hóa - phù hợp với lý thuyết Học tập tự định hướng đã và đang hình thành và phát triển tại môi trường học tập của sinh viên Học viện, theo PGS.TS Nguyễn Văn Hậu chia sẻ: “Từ khóa được nhắc tới trong việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào học tập của mỗi sinh viên trong thời đại hiện nay chính là đứng trên vai người khổng lồ do đó sinh viên hãy xem Al như một điều kiện tốt để hợp tác trong vai trò là người dẫn dắt để ứng dụng trí tuệ nhân tạo một cách cá nhân hóa, riêng biệt và sáng tạo. Al làm được rất nhiều công việc nhưng nếu các em sinh viên luôn thụ động, không tìm tòi, sợ tiếp cận những cách học mới hay sử dụng những gói Al chất lượng cao thì chưa ứng dụng được triệt để khả năng đa dạng phương pháp học tập cho quá trình phát triển của bản thân”. Đây là minh chứng cho việc Al có tiềm năng lớn trong cá nhân hóa nội dung học tập, song cần có sự chủ động từ phía người học.

Về sử dụng AI như trợ lý học tập thông minh:

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập của sinh viên tại Học viện Hành chính và quản trị công
Biểu đồ 3. Trí tuệ nhân tạo như trợ lý học tập thông minh trong học tập

Có 37% sinh viên rất đồng ý Al là gia sư ảo giúp sinh viên giải đáp tức thì kiến thức tổng hợp, 22% đồng ý, 29% cho là bình thường, 8% ít đồng ý và 4% không đồng ý; việc ứng dụng Al hỗ trợ xây dựng thời gian biểu học tập có 23% đồng ý hỗ trợ rất tốt, 32% có hỗ trợ tốt, 33% cho rằng bình thường, 7% hỗ trợ ít và 6% cho rằng Al không hộ trợ được gì; việc ứng dụng Al trong hỗ trợ viết luận và nghiên cứu khoa học của sinh viên, có 38% đồng ý rất tốt, 32% cho là tốt, 28% thấy bình thường, 2% thấy hỗ trợ ít và 1% cho rằng không hỗ trợ được gì. Về vấn đề này, TS. Trương Quốc Việt nhấn mạnh: “…mỗi sinh viên cần thay đổi tư duy khi sử dụng AI và khẳng định Al là chỉ là công cụ, không thay thế cho tư duy con người. Do đó, khi ứng dụng Al vào học tập sinh viên thay vì chỉ sử dụng chúng giúp trả lời câu hỏi, chuyển sang biết cách đặt câu hỏi cho vấn đề mình học tập, nghiên cứu và việc sử dụng Al phụ thuộc rất nhiều vào năng lực nhận thức, sự trải nghiệm thực tế của người sử dụng. Nên sinh viên cần có nhận thức rõ ràng và hiểu biết về các chức năng của Al, để ứng dụng Al như một trợ lý học tập thông minh của từng cá nhân”. Qua đây cho thấy trong bối cảnh khối lượng tri thức ngày càng mở rộng, khẳng định vai trò hỗ trợ học tập của trí tuệ nhân tạo được sinh viên đánh giá khá tích cực.

Tối ưu hóa khả năng tiếp cận và tổng hợp kiến thức:

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập của sinh viên tại Học viện Hành chính và quản trị công
Biểu đồ 4. Tối ưu hóa khả năng tiếp cận học tập thông qua trí tuệ nhân tạo

Việc sinh viên ứng dụng Al vào tối ưu hóa khả năng tiếp cận và tổng hợp kiến thức, có 14% sinh viên cho rằng Al giúp ghi ân bài giảng và chuyển đổi nội dung học tập từ giọng nói sang văn bản và ngược lại rất tốt, 26% cho khá là tốt, 55% thấy bình thường, 3% chưa tốt lắm và 1% thấy không tốt; ứng dụng Al vào tóm tắt bài giảng, tài liệu học tập có 18% nhận thấy rất tốt, 72% là khá tốt, 9% thấy bình thường, 1% chưa thật tốt, 1% nhận thấy không tốt; bên cạnh đó với việc ứng dụng Al cho sinh viên có nhu cầu đặc biệt (có các tính năng hỗ trợ đặc biệt dành cho sinh viên có nhu cầu riêng biệt như khiếm thính, khiếm thị), có 14% cho rằng rất tốt, 29% cho là khá tốt, 50% thấy bình thường, 4% chưa thấy thực sự tốt và 5% chưa thấy tốt. Qua kết quả có thể nhận thấy với ứng dụng Al trong học tập sinh viên đặc biệt được đánh giá ở mức trung lập đã phản ánh thực tế rằng nhóm đối tượng này chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong phạm vi Học viện Hành chính và Quản trị công do học chưa có nhiều cơ hội trải nghiệm các tính năng chuyên biệt này. Ngược lại, tính năng tóm tắt bài giảng ghi nhận mức đồng ý lên đến 72%, cho thấy đây là ứng dụng Al khá phổ biến và thường xuyên nhất trong hoạt động học tập của sinh viên Học viện hiện nay.

Qua phân tích kết quả trên có thể nhận thấy việc ứng dụng Al trong học tập của sinh viên Học viện Hành chính và Quản trị công cho thấy

Việc ứng dụng Al trong học tập được sinh viên Học viện Hành chính và Quản trị công đã và đang trở thành công cụ hỗ trợ khá hiệu quả, góp phần nâng cao tính chủ động, đồng thời giúp họ có tích lũy kinh nghiệm ứng dụng công nghệ trong học tập, nghiên cứu khoa học. Đặc biệt đối với sinh viên ngành hành chính công, những người trong tương lai có thể sẽ trực tiếp tham gia vào vận hành “nền hành chính số” ở Việt Nam.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cũng bộc lộ những hạn chế nhất định như: nhận thức của sinh viên về ứng dụng Al trong học tập vẫn còn thụ động, chưa thực sự chủ động kiểm chứng và phát triển tư duy phản biện; một số sinh viên chưa hiểu biết các tính năng và kỹ năng lựa chọn ứng dụng phục vụ cho học tập dẫn đến lãng phí thời gian và giảm chất lượng kết quả học tập.

3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập của sinh viên Học viện Hành chính và Quản trị công

Thứ nhất, nâng cao nhận thức của sinh viên về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập.

Sinh viên cần phải nhận thức rõ tính hai mặt của việc ứng dụng Al trong học tập - rủi ro - lợi ích mà Al mang lại. Đây được xem là giải pháp nền tảng và có tính định hướng cho toàn bộ quá trình ứng dụng Al của sinh viên trong học tập. Để làm được điều này sinh viên cần chủ động học hỏi nâng cao nhận thức về Al và ứng dụng chúng. Đồng thời nhận thức rõ hiện tại Al đang tái cấu trúc toàn diện thị trường lao động, điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết rằng sinh viên không chỉ biết sử dùng Al mà phải biết ứng dụng Al vào đúng với yêu cầu học tập, nghiên cứu phục vụ cho nghề nghiệp của mình theo học và tương lai. Do đó, sinh viên cần chủ động tìm hiểu bản chất, nguyên lý và giới hạn của ứng dụng Al trong học tập và cách ứng dụng trong lĩnh vực chuyên môn của mình học, thông qua các tài liệu chính thống, các khóa học, hội thảo chuyên đề chuyên sâu về ứng dụng Al; tích cực tham gia các cộng đồng học tập trực tuyến để trao đổi kinh nghiệm, cập nhật xu hướng và hình thành thói quen khai thác Al một cách khoa học và có chọn lọc - sinh viên cần chủ động chuyển từ tâm thế "người sử dụng thụ động" sang "người khai thác có định hướng và có trách nhiệm"; rèn luyện kỹ năng phân tích tình huống, mô phỏng ra quyết định và hệ thống hóa tài liệu chuyên ngành có sự hỗ trợ của Al; từ đó từng bước chuyển hóa việc học từ học để hiểu biết sang học để làm, hình thành tư duy học tập suốt đời trong môi trường số.

Thứ hai, nâng cao ý thức, đạo đức học thuật trong ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập.

Sinh viên cần sử dụng Al có trách nhiệm: không dùng Al thay thế tư duy cá nhân, không sao chép nguyên văn, không bỏ qua trích dẫn; biết cách đặt câu hỏi và phản biện câu trả lời mà Al thực hiện. Sinh viên nên sử dụng quy tắc "80% tự làm, 20% Al hỗ trợ" được chuẩn hóa thành tiêu chí học tập thông minh của từng cá nhân. Tránh tình trạng sinh viên sử dụng Al để tạo ra toàn bộ sản phẩm học tập mà không qua kiểm chứng, biên tập hay trích dẫn nguồn một cách minh bạch - một hình thức đạo văn phi truyền thống làm ảnh hưởng đến kết quả học tập và thực hiện công việc trong tương lai.

Thứ ba, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập.

Nhà trường cần tăng cường thêm nhiều hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến việc ứng dụng Al trong học tập cho sinh viên một cách đa dạng và đồng bộ như: tiếp tục phát huy vai trò lan tỏa của giảng viên, cán bộ, viên chức và người lao động qua quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình; tổ chức nhiều hơn nữa các cuộc thi, talkshow và chương trình giao lưu học thuật với doanh nghiệp công nghệ; đồng thời xây dựng và phổ biến tài liệu hướng dẫn sử dụng Al thực hành như sổ tay: số trực tuyến, bản in được phân loại theo từng chức năng học tập cụ thể, truyền thông trên các trang fanpage cồng đồng sinh viên, website,... giúp sinh viên tiếp cận đúng hướng và tránh lạm dụng công nghệ.

Thứ tư, hoàn thiện cơ sở hạ tầng và mở rộng khả năng tiếp cận công cụ trí tuệ nhân tạo chất lượng cao.

Để sinh viên có được nhận thức đúng và có thêm kỹ năng ứng dụng Al trong học tập được hiệu quả hơn nữa, nhà trường cần tiếp tục đồng hành, quan tâm đầu tư đầu tư hơn nữa cơ sở hạ tầng, có thể mở rộng các công cụ tiếp cận ứng dụng Al trong học tập như: ưu tiên cấp quyền truy cập nền tảng Al chuyên nghiệp cho sinh viên nghiên cứu khoa học và năm cuối; tái định hình hệ thống phòng máy tính thành không gian học tập số mở; tích hợp Al vào hệ thống quản lý học tập LMS và hoàn thiện hơn nữa thư viện số; ban hành riêng bộ quy tắc sử dụng Al trong học tập của sinh viên.

Chú thích:

[1] Chính phủ (2020), Quyết định phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020.

[2] Ban Chấp hành Trung ương (2024), Nghị quyết về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị.

[3] Ban Chấp hành Trung ương (2025). Nghị quyết về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025, Bộ Chính trị.

[4] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2025), Thông tư hướng dẫn ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giáo dục, số 02/2025/TT-BGDĐT.

[5] Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2025), Quyết định về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Học viện Hành chính và Quản trị công, 55-QĐ/HVCTQG ngày 08/01/2025.

Tài liệu tham khảo:

1. Đỗ Thế Dương & Nguyễn Hoàng Diệu Linh (2023). Trí tuệ nhân tạo – cơ hội và thách thức trong giáo dục. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 14, tháng 5/2023.

2. Lê Thị Mai Phương (2025). Cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong bối cảnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Tạp chí Quản lý Nhà nước.

3. Mạch Nam Dũng (2025). Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong các trường đại học tại Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Dự báo.

4. Nguyễn Đăng Khoa & Nguyễn Quốc Hưng. Phát triển ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong giáo dục đại học tại Việt Nam: Cơ hội, thách thức và giải pháp. Khoa Thống kê – Trường Công nghệ, Đại học Kinh tế Quốc dân.

5. Nguyễn Văn Tiệp (2024). Đổi mới cách dạy học với Trí tuệ Nhân tạo (AI). Hà Nội: NXB Công Thương.

6. Trịnh Huyền Mai & Lê Hồ Vĩ (2024). Trí tuệ nhân tạo và phát triển nguồn nhân lực khu vực công tại Việt Nam. Tạp chí Quản lý Nhà nước.

Bài liên quan

Khoảng trống kỹ năng AI của thanh niên có thể ảnh hưởng tương lai nông nghiệp Hoa Kỳ

Khoảng trống kỹ năng AI của thanh niên có thể ảnh hưởng tương lai nông nghiệp Hoa Kỳ

Khảo sát mới của tổ chức 4 H cho thấy trí tuệ nhân tạo đang ngày càng phổ biến trong giáo dục và việc làm, nhưng nhiều thanh thiếu niên vẫn thiếu cơ hội tiếp cận các kỹ năng cần thiết. Thực trạng này được xem là thách thức đáng chú ý đối với quá trình chuyển đổi số trong nông nghiệp và phát triển lực lượng lao động tương lai.
Kỷ nguyên số mở ra cơ hội nào cho báo chí nông nghiệp Việt Nam?

Kỷ nguyên số mở ra cơ hội nào cho báo chí nông nghiệp Việt Nam?

Sự bùng nổ của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và nền tảng mạng xã hội đang tạo ra một bước ngoặt lớn với báo chí Việt Nam. Trong dòng chảy ấy, báo chí nông nghiệp đứng trước cơ hội chưa từng có để mở rộng độc giả, tăng tốc truyền tải tri thức sản xuất và trở thành cầu nối dữ liệu giữa nông dân với thị trường. Nếu trước đây thông tin nông nghiệp thường gắn với những trang báo chuyên ngành có phạm vi tiếp cận hẹp, thì nay chỉ bằng một chiếc điện thoại thông minh, người nông dân có thể tiếp cận tin tức mùa vụ, giá cả, công nghệ canh tác và xu hướng xuất khẩu gần như theo thời gian thực.
Công nghệ nông nghiệp chính xác chưa phải lời giải cho mọi bài toán sản xuất

Công nghệ nông nghiệp chính xác chưa phải lời giải cho mọi bài toán sản xuất

Nông nghiệp chính xác từng được kỳ vọng sẽ mở ra cuộc cách mạng mới trong sản xuất nông nghiệp nhờ khả năng tối ưu hóa phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và dữ liệu đồng ruộng. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng việc quá phụ thuộc vào công nghệ đang khiến ngành nông nghiệp bỏ qua những vấn đề cốt lõi như suy thoái đất, đa dạng sinh học và tính bền vững của hệ sinh thái canh tác.
Hàn Quốc phát triển robot quản lý canh tác nông nghiệp bằng AI

Hàn Quốc phát triển robot quản lý canh tác nông nghiệp bằng AI

Trong bối cảnh lực lượng lao động nông nghiệp ngày càng suy giảm và già hóa nhanh chóng, Hàn Quốc đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao để duy trì năng suất và ổn định sản xuất.
Trí tuệ nhân tạo trong nông nghiệp hiện đại đòi hỏi niềm tin từ cộng đồng

Trí tuệ nhân tạo trong nông nghiệp hiện đại đòi hỏi niềm tin từ cộng đồng

Trí tuệ nhân tạo đang mở ra cơ hội tăng năng suất và giảm chi phí cho nông nghiệp toàn cầu, song khoảng cách niềm tin vẫn là rào cản lớn đối với nông dân. Các doanh nghiệp và tổ chức tại Hoa Kỳ đang đẩy mạnh thử nghiệm thực địa, đào tạo và minh bạch dữ liệu nhằm thúc đẩy quá trình ứng dụng công nghệ này trong sản xuất nông nghiệp.
Nông nghiệp Hàn Quốc bứt phá với nền tảng trí tuệ nhân tạo quốc gia

Nông nghiệp Hàn Quốc bứt phá với nền tảng trí tuệ nhân tạo quốc gia

Chính phủ Hàn Quốc vừa công bố kế hoạch thiết lập nền tảng AI nông nghiệp quốc gia giúp tái cơ cấu hệ thống sản xuất thực phẩm tươi sống, thúc đẩy canh tác thông minh dựa trên dữ liệu.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Trí tuệ nhân tạo được và không được ở chỗ nào?

Trí tuệ nhân tạo được và không được ở chỗ nào?

Trí tuệ nhân tạo (AI) là công nghệ mô phỏng khả năng học tập, phân tích và xử lý thông tin của con người. AI giúp tự động hóa công việc, nâng cao năng suất và hỗ trợ ra quyết định. Tuy nhiên, AI không có cảm xúc, đạo đức hay tư duy sáng tạo hoàn toàn như con người.
BVTW Huế: Sự sống có thể khép lại nhưng lòng nhân ái vẫn luôn tiếp tục

BVTW Huế: Sự sống có thể khép lại nhưng lòng nhân ái vẫn luôn tiếp tục

Sau gần 1 tháng kể từ ca lấy - ghép đa tạng từ người hiến chết não, niềm vui đã trọn vẹn khi bệnh nhân cuối cùng trong 6 người tiếp nhận đủ điều kiện xuất viện
Ngành khoa học cây trồng phải chi 307 triệu USD cho mỗi hoạt chất bảo vệ thực vật mới

Ngành khoa học cây trồng phải chi 307 triệu USD cho mỗi hoạt chất bảo vệ thực vật mới

Một báo cáo quốc tế vừa công bố cho thấy việc phát triển và đăng ký một hoạt chất bảo vệ thực vật mới hiện cần trung bình 11,4 năm và 307 triệu USD. Mức đầu tư ngày càng lớn phản ánh nỗ lực của ngành trong việc tạo ra các giải pháp bảo vệ cây trồng an toàn, hiệu quả và thân thiện hơn với môi trường.
Chiết xuất protein từ lá súp lơ: Hướng đi mới tận dụng phụ phẩm nông nghiệp

Chiết xuất protein từ lá súp lơ: Hướng đi mới tận dụng phụ phẩm nông nghiệp

Các nhà nghiên cứu tại Đại học RMIT (Úc) đã thử nghiệm công nghệ sóng siêu âm công suất cao để chiết xuất protein từ lá súp lơ, loại phụ phẩm thường bị loại bỏ trong quá trình chế biến. Kết quả cho thấy phương pháp này giúp tăng khả năng thu hồi protein và mở ra tiềm năng tận dụng phụ phẩm nông nghiệp theo hướng bền vững.
Bài toán xử lý bao bì sau tiêu dùng: Kinh nghiệm từ Vinamilk

Bài toán xử lý bao bì sau tiêu dùng: Kinh nghiệm từ Vinamilk

Khi các quy định về thu gom và tái chế bao bì đi vào thực thi, lợi thế đang nghiêng về những doanh nghiệp đã sớm chuẩn bị. Câu chuyện tại Vinamilk cho thấy, cách tiếp cận chủ động có thể chuyển hóa áp lực tuân thủ thành hiệu quả kinh tế và lợi thế cạnh tranh bền vững.
Châu Á tăng cường giám sát tàu cá nhưng vẫn bỏ ngỏ quyền lợi lao động ngư nghiệp

Châu Á tăng cường giám sát tàu cá nhưng vẫn bỏ ngỏ quyền lợi lao động ngư nghiệp

Nhiều quốc gia châu Á đã đầu tư mạnh vào công nghệ giám sát tàu cá nhằm chống khai thác bất hợp pháp và bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng việc theo dõi hoạt động của tàu thuyền đang phát triển nhanh hơn nhiều so với các biện pháp bảo vệ quyền lợi và điều kiện làm việc của hàng triệu lao động trên biển.
Gần 20.000 sản phẩm tham gia hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản

Gần 20.000 sản phẩm tham gia hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản

Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản do Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng đang ghi nhận sự tham gia ngày càng rộng rãi của các địa phương, doanh nghiệp và người sản xuất. Đến giữa tháng 6/2026, đã có 18.500 sản phẩm được cập nhật lên hệ thống, từng bước hình thành cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý và kết nối tiêu thụ nông sản.
Tưới ngập khô xen kẽ: Giải pháp giảm phát thải mê-tan trong sản xuất lúa

Tưới ngập khô xen kẽ: Giải pháp giảm phát thải mê-tan trong sản xuất lúa

Thay đổi phương thức tưới nước trên ruộng lúa không chỉ giúp tiết kiệm tài nguyên mà còn cắt giảm đáng kể lượng khí mê-tan phát thải ra môi trường, mở ra hướng phát triển nông nghiệp phát thải thấp tại Việt Nam.
Peru thử nghiệm các giống chuối kháng bệnh Fusarium TR4

Peru thử nghiệm các giống chuối kháng bệnh Fusarium TR4

Peru đang triển khai chương trình thử nghiệm các giống chuối kháng bệnh nấm Fusarium Tropical Race 4 (TR4) nhằm tìm giải pháp thay thế giống Cavendish truyền thống. Kết quả ban đầu cho thấy nhiều tín hiệu tích cực khi các giống mới vẫn phát triển khỏe mạnh trên những vùng đất đã nhiễm bệnh.
Chỉ 10 hạt virus H5N1 có thể khiến bò sữa nhiễm cúm gia cầm

Chỉ 10 hạt virus H5N1 có thể khiến bò sữa nhiễm cúm gia cầm

Một nghiên cứu mới của các nhà khoa học Hoa Kỳ cho thấy chỉ cần 10 hạt virus H5N1 cũng đủ gây nhiễm bệnh ở bò sữa. Phát hiện này làm dấy lên lo ngại về nguy cơ lây lan cúm gia cầm trong ngành chăn nuôi bò sữa, đồng thời cho thấy virus có khả năng tấn công tuyến vú của bò thay vì hệ hô hấp như các chủng cúm thông thường.
Những lưu ý khi sử dụng AI trong sáng tạo tác phẩm báo chí

Những lưu ý khi sử dụng AI trong sáng tạo tác phẩm báo chí

Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI) đang tạo ra những thay đổi sâu sắc trong hoạt động báo chí - truyền thông trên toàn thế giới. Từ thu thập thông tin, phân tích dữ liệu, hỗ trợ biên tập, chuyển đổi giọng nói thành văn bản cho đến tạo hình ảnh, video và nội dung đa phương tiện, AI đang trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho các nhà báo trong môi trường truyền thông số.
Mang giải pháp dinh dưỡng khoa học cho điều Campuchia: Hành trình kiến tạo những mùa vàng thịnh vượng

Mang giải pháp dinh dưỡng khoa học cho điều Campuchia: Hành trình kiến tạo những mùa vàng thịnh vượng

Campuchia hiện là một trong những "thủ phủ" điều lớn nhất Đông Nam Á với diện tích vượt mốc 700.000 ha.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính