Thứ sáu 22/05/2026 03:58Thứ sáu 22/05/2026 03:58 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Phép cộng bền vững cho nông nghiệp miền núi - Bài 3: Gia tăng giá trị cho nông sản hữu cơ

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Để nông nghiệp hữu cơ miền núi không còn dừng lại ở những mô hình điểm mà thực sự thành một ngành kinh tế xanh bền vững, cần phải tối ưu lợi thế cạnh tranh, nâng tỷ lệ lợi nhuận trên mỗi đơn vị sản phẩm.
Phép cộng bền vững cho nông nghiệp miền núi - Bài 3: Gia tăng giá trị cho nông sản hữu cơ

Nông sản hữu cơ chưa qua chế biến có thời gian bảo quản ngắn, dẫn đến những khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm. (Ảnh: Văn Ngọc)

Tương xứng với công sức chuyển đổi

Chuyển đổi từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp hữu cơ là chặng đường nhiều thử thách. Để sản xuất nông nghiệp hữu cơ, cần phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định, như: Không sản xuất hữu cơ xen lẫn với sản xuất thông thường và vùng đang chuyển đổi sang sản xuất hữu cơ; không sử dụng các loại giống cây chuyển đổi gen; không sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật hóa học, các loại phân bón tổng hợp…

Quá trình chuyển đổi hữu cơ có thể kéo dài vài năm, kéo theo đó là sự sụt giảm năng suất trong giai đoạn đầu. Theo một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Hữu cơ (IFOAM), năng suất trong giai đoạn chuyển đổi có thể giảm từ 10-20% tùy thuộc vào loại cây trồng và điều kiện đất đai, đòi hỏi người nông dân phải có sự chuẩn bị tâm lý và tài chính để vượt qua giai đoạn khó khăn này.

Trong khi đó, các giấy chứng nhận sản phẩm nông nghiệp hữu cơ không có giá trị vô thời hạn. Chứng nhận tiêu chuẩn hữu cơ Việt Nam có thời hạn 2 năm, của USDA (Hoa Kỳ) có thời hạn 5 năm… trong khi thời gian chuyển đổi có thể kéo dài vài năm và cần được tái đánh giá định kỳ để đảm bảo sự duy trì tuân thủ các quy chuẩn.

Bên cạnh vấn đề năng suất, kiểm soát sâu bệnh trong nông nghiệp hữu cơ cũng là một thách thức không nhỏ. Hơn nữa, các mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ cần vùng đệm chuyển đổi để đảm bảo chất lượng, hạn chế ảnh hưởng của các tác nhân bên ngoài…

Để tương xứng với công sức chuyển đổi và duy trì mô hình, sản phẩm hữu cơ thường có giá thành cao hơn so với sản phẩm thông thường, dẫn đến những khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm.

Những năm gần đây, thị trường tiêu thụ nông sản hữu cơ Việt Nam đang ngày càng phát triển nhưng vẫn còn nhỏ hẹp và chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn. Tại các tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc, việc tiêu thụ nông sản sạch tại tỉnh vẫn còn nhiều thách thức, đa phần vẫn cần vận chuyển về thành phố để tiêu thụ. Sản phẩm nông sản hữu cơ chưa qua chế biến có thời gian bảo quản ngắn, thời gian vận chuyển từ miền núi về các thành phố lớn kéo dài có thể ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm…

Mặt khác, nếu chỉ bán sản phẩm nông nghiệp hữu cơ ở dạng thô, biên lợi nhuận của doanh nghiệp, tổ chức sản xuất nông nghiệp hữu cơ dễ bị ảnh hưởng bởi tác động từ thị trường. Do đó, các mô hình nông nghiệp hữu cơ dễ rơi vào tình trạng thiếu vốn tái đầu tư để phát triển sản xuất bền vững. Thực trạng này đặt ra yêu cầu gia tăng giá trị nông sản hữu cơ, bắt đầu từ những thay đổi trong quy trình sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản của nhà sản xuất.

Những phép cộng gia tăng giá trị nông sản

Để gia tăng giá trị nông sản hữu cơ, các doanh nghiệp, HTX, tổ chức sản xuất nông nghiệp hữu cơ đang có nhiều giải pháp sáng tạo, hiệu quả.

Trong đó, chế biến sâu đang là giải pháp được nhiều doanh nghiệp, HTX, tổ chức sản xuất nông nghiệp hữu cơ áp dụng. Như tại Thái Nguyên, một búp chè hữu cơ có thể tạo ra hàng chục sản phẩm. Nhiều cơ sở sản xuất chè hữu cơ tại địa phương như HTX chè Hảo Đạt, HTX chè an toàn Khe Cốc, HTX chè Thủy Thuật và HTX trà Trung du Tân Cương... đã chế biến chè hữu cơ thành các sản phẩm như trà, trà túi lọc, bột matcha, kẹo trà xanh, bánh trà xanh, các sản phẩm mỹ phẩm, dược phẩm, kết hợp trộn phụ phẩm trà vào thức ăn chăn nuôi… giúp tăng giá trị sản phẩm, đa dạng hóa nguồn thu.

Nông sản qua chế biến có thể kéo dài thời gian bảo quản, kéo theo đó là sự đa dạng trong kênh tiêu thụ sản phẩm, từ cửa hàng nhỏ đến siêu thị lớn, từ bán hàng trực tiếp đến tiêu thụ qua các sàn thương mại điện tử, mạng xã hội.

Phép cộng bền vững cho nông nghiệp miền núi - Bài 3: Gia tăng giá trị cho nông sản hữu cơ

Tại Thái Nguyên, một búp chè sạch có thể tạo ra hàng chục sản phẩm, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường.

Khai thác lợi thế địa phương, các tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc tập trung vào hướng phát triển sản phẩm nông nghiệp đặc hữu mà các địa phương khác không có hoặc nếu có thì chất lượng khác hẳn. Các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ được quy hoạch phát triển gắn với thương hiệu địa phương, mang câu chuyện văn hóa, bản sắc, được đầu tư về bao bì, nhãn mác, chứng nhận sản phẩm…

Sản phẩm hữu cơ hoặc các sản phẩm chế biến từ sản phẩm hữu cơ đã trở thành đặc sản vùng miền, được chứng nhận sản phẩm OCOP cấp tỉnh, thậm chí cấp quốc gia như trà Cổ Việt của HTX Chè Phìn Hồ (Hà Giang cũ), chè tôm nõn của HTX chè Hảo Đạt (Thái Nguyên cũ), mỳ gạo sạch sinh ra từ làng Hùng Lô của HTX Mỳ gạo Hùng Lô (tỉnh Phú Thọ cũ)…

Nhờ xây dựng được thương hiệu bài bản, các sản phẩm này có thể gia tăng giá trị hàng trăm nghìn đồng, hàng triệu đồng trên 1 đơn vị sản phẩm, hướng tới phân khúc khách hàng cao cấp, làm quà biếu, quà tặng.

Nhiều vùng canh tác nông nghiệp hữu cơ đã được khai thác thành điểm đến du lịch hấp dẫn, kết hợp trải nghiệm văn hóa, nghỉ dưỡng… nâng cao thu nhập cho người sản xuất. Nông nghiệp hữu cơ phát triển gắn với kinh tế tuần hoàn, giúp giảm chi phí đầu vào, tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có, gia tăng lợi nhuận.

Trong bối cảnh xu hướng tiêu dùng xanh đang phát triển nhanh trên thế giới, sản phẩm nông nghiệp hữu cơ có thể trở thành con đường thu ngoại tệ. Hiện nay, một số sản phẩm nổi bật của các tỉnh miền núi như chè và gia vị từ dược liệu đã được chứng nhận hữu cơ của các tổ chức nước ngoài và có mặt tại nhiều thị trường khó tính trên thế giới như Mỹ, Úc, Châu Âu, Canada,…

Hướng đi này vẫn còn nhiều dư địa khi giá trị xuất khẩu nông sản hữu cơ của Việt Nam chỉ đạt khoảng 20 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,46% tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản - một con số khiêm tốn so với lợi thế sẵn có. Tín chỉ carbon cũng có thể là “mỏ vàng” cho những HTX, doanh nghiệp, tổ chức sản xuất nông nghiệp hữu cơ…

Cần liên kết xây dựng chuỗi giá trị

Tuy nhiên, để nông nghiệp hữu cơ thực sự trở thành một ngành kinh tế xanh, không thể chỉ dựa vào nỗ lực đơn lẻ của các HTX hay doanh nghiệp sản xuất. Cần thiết phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các tác nhân để hình thành chuỗi giá trị. Trong đó, mỗi HTX và doanh nghiệp sẽ đóng vai trò như một mắt xích quan trọng, cùng phối hợp nhằm gia tăng giá trị cho sản phẩm nông nghiệp hữu cơ.

Tại Hội thảo "Phát triển Nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam", Đan Mạch đã được đưa ra như một ví dụ hình mẫu trong phát triển nông nghiệp hữu cơ. Theo đó, một trong những yếu tố thành công then chốt là áp dụng tiêu chuẩn hữu cơ một cách xuyên suốt trong toàn bộ chuỗi giá trị - từ nông trại đến bàn ăn. Sản phẩm chỉ được cấp nhãn hữu cơ khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chí, đồng thời trải qua hệ thống kiểm soát chặt chẽ, bao gồm kiểm tra định kỳ, đột xuất từ cơ quan chức năng địa phương.

Từ năm 2009, Đan Mạch còn mở rộng việc dán nhãn hữu cơ cho cả bếp ăn công cộng như trường học, nhà hàng, giúp người dân yên tâm lựa chọn thực phẩm sạch ngay cả ngoài gia đình.

Việc tổ chức sản xuất theo quy mô lớn và đồng bộ còn giúp giảm đáng kể chênh lệch giá giữa thực phẩm hữu cơ và phi hữu cơ. Do đó, tại các siêu thị bình dân ở Đan Mạch, người tiêu dùng có thể dễ dàng tiếp cận thực phẩm hữu cơ với giá hợp lý, tạo ra thị trường bền vững và sức cầu ổn định.

Bài học lớn từ Đan Mạch là sự phối hợp hiệu quả giữa các bên trong chuỗi giá trị: Nhà nước xây dựng luật và kiểm soát chặt chẽ, doanh nghiệp đầu tư sản xuất và phát triển thị trường, nông dân được đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật, người tiêu dùng được tuyên truyền nâng cao nhận thức. Mô hình này không chỉ thúc đẩy tiêu dùng nội địa mà còn giúp Đan Mạch trở thành nước xuất khẩu thực phẩm hữu cơ có uy tín trên thế giới.

Nhìn vào Việt Nam, để nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam phát triển đúng hướng và xứng tầm, nhiều chuyên gia khẳng định cần có chiến lược tổng thể cấp quốc gia, với trọng tâm là quy hoạch vùng sản xuất hữu cơ phù hợp từng vùng sinh thái; hoàn thiện khung pháp lý, bộ tiêu chí thống nhất và minh bạch; tăng cường đầu tư cho nghiên cứu, chuyển giao công nghệ; và quan trọng nhất là phát triển chuỗi liên kết giữa nông dân - doanh nghiệp - thị trường.

Phép cộng bền vững cho nông nghiệp miền núi - Bài 3: Gia tăng giá trị cho nông sản hữu cơ

Sản xuất nông nghiệp hữu cơ có liên kết theo chuỗi giá trị là hướng đi bền vững để nông nghiệp hữu cơ thực sự trở thành một ngành kinh tế xanh.

Kiến nghị các giải pháp cụ thể, GS. TS Đào Thanh Vân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam đề xuất, các bộ, ngành, địa phương cần xây dựng các cơ chế, chính sách riêng hỗ trợ cho phát triển các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ chủ lực, có lợi thế; phát triển đa dạng các mô hình sản xuất hữu cơ có liên kết theo chuỗi giá trị; hỗ trợ tìm kiếm thông tin, nhu cầu thị trường, tìm đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp hữu cơ; kêu gọi các doanh nghiệp tham gia đầu tư vào sản xuất nông nghiệp hữu cơ; tăng cường hợp tác với các nước, tổ chức quốc tế để thúc đẩy phát triển bền vững nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam.

Mặt khác, cần xây dựng các mô hình liên kết theo chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất, chế biến, kinh doanh các sản phẩm hữu cơ tại các vùng sản xuất tập trung tạo ra hàng hóa quy mô lớn đối với các sản phẩm chủ lực; sản xuất hữu cơ gắn với chuỗi giá trị cho các sản phẩm chủ lực nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, giảm chi phí đầu vào, giảm phát thải khí nhà kính; xây dựng mô hình liên kết chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp hữu cơ từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ; ứng dụng công nghệ cao để chế biến sâu, tinh chế tạo ra sản phẩm nông nghiệp hữu cơ có giá trị cao mang thương hiệu; tăng cường công tác đào tạo chuyên gia chuyên sâu về nông nghiệp hữu cơ ở cả Trung ương và địa phương…

Bài liên quan

Thái Nguyên thúc đẩy phát triển ngành chè gắn với thương hiệu và chuyển đổi số

Thái Nguyên thúc đẩy phát triển ngành chè gắn với thương hiệu và chuyển đổi số

Nhân Ngày Chè thế giới 21/5, Hội Chè Thái Nguyên tổ chức Tọa đàm “Phát triển ngành chè Thái Nguyên gắn với xây dựng thương hiệu và chuyển đổi số”, nhằm trao đổi các giải pháp nâng cao chất lượng, giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm chè trong giai đoạn mới.
TP.HCM phát triển vùng rau an toàn, truy xuất nguồn gốc đến năm 2030

TP.HCM phát triển vùng rau an toàn, truy xuất nguồn gốc đến năm 2030

UBND TP.HCM vừa ban hành Kế hoạch triển khai Đề án phát triển các vùng sản xuất rau an toàn, tập trung, bảo đảm truy xuất nguồn gốc gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ đến năm 2030 trên địa bàn Thành phố. Kế hoạch hướng đến phát triển nông nghiệp đô thị hiện đại, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng nông sản và hiệu quả sản xuất.
Giảm phát thải: Hướng đi mới để nâng cao giá trị nông sản Việt

Giảm phát thải: Hướng đi mới để nâng cao giá trị nông sản Việt

Sau giai đoạn tăng trưởng mạnh nhờ mở rộng diện tích, tăng sản lượng và đẩy mạnh xuất khẩu, nông sản Việt Nam đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới. Ở đó, chất lượng sản phẩm không chỉ được đo bằng năng suất, mẫu mã hay giá bán, mà còn bằng khả năng sản xuất xanh, minh bạch dữ liệu và giảm phát thải trong toàn bộ chuỗi giá trị.
Thúc đẩy chuyển đổi số trong nông nghiệp hữu cơ từ hợp tác giữa VOAA và VNPT Green

Thúc đẩy chuyển đổi số trong nông nghiệp hữu cơ từ hợp tác giữa VOAA và VNPT Green

Sáng 18/5, tại Hà Nội, Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) và Trung tâm Nông nghiệp số VNPT (VNPT Green) tổ chức Lễ ký kết Hợp đồng hợp tác phát triển thương hiệu, thị trường và sản phẩm. Sự kiện được kỳ vọng mở ra hướng phối hợp mới trong việc ứng dụng công nghệ số vào quản lý hội viên, dữ liệu sản xuất, truy xuất nguồn gốc và cấp chứng nhận tiêu chuẩn chất lượng trong nông nghiệp hữu cơ.
Hải Phòng: Đẩy nhanh thu hoạch lúa Hè thu, chủ động kiến tạo quỹ đất cho khung thời vụ đông

Hải Phòng: Đẩy nhanh thu hoạch lúa Hè thu, chủ động kiến tạo quỹ đất cho khung thời vụ đông

Những ngày này, trên khắp các vùng trọng điểm sản xuất lúa của thành phố Hải Phòng như Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, An Lão, Thủy Nguyên... không khí lao động đang diễn ra vô cùng khẩn trương. Ghi nhận tại các cánh đồng mẫu lớn, khung cảnh cơ giới hóa đồng bộ với hệ thống máy gặt đập liên hợp hoạt động hết công suất đã minh chứng cho một vụ sản xuất hè thu chủ động và hiệu quả. Việc thu hoạch nhanh gọn giai đoạn này không chỉ giúp tối ưu hóa giá trị thương phẩm của hạt gạo mà còn là mắt xích then chốt trong việc giải phóng đất, chuẩn bị cho khung thời vụ sản xuất vụ đông sắp tới.
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vượt 23 tỷ USD: Áp lực chuyển từ sản lượng sang giá trị

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vượt 23 tỷ USD: Áp lực chuyển từ sản lượng sang giá trị

4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng, đạt 23,04 tỷ USD, tăng 5,4% so với cùng kỳ. Kết quả này cho thấy vai trò quan trọng của khu vực nông nghiệp trong ổn định kinh tế, song cũng đặt ra yêu cầu ngày càng rõ về chất lượng, tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc và phát triển chuỗi giá trị bền vững.

CÁC TIN BÀI KHÁC

"Quả ngọt" từ tư duy liên kết và đổi mới giống

"Quả ngọt" từ tư duy liên kết và đổi mới giống

Vụ lúa xuân 2026, Hà Tĩnh giành thắng lợi với năng suất lúa đạt cao, sản xuất từng bước chuyển đổi theo hướng canh tác bền vững, liên kết theo chuỗi giá trị. Kết quả này góp phần quan trọng vào mục tiêu tăng trưởng GRDP ngành nông, lâm, thủy sản đạt trên 3% trong năm 2026.
Hỗ trợ 60.000 cây giống cà phê TRS1 cho nông dân tái canh

Hỗ trợ 60.000 cây giống cà phê TRS1 cho nông dân tái canh

Hội Nông dân phường Ea Kao phối hợp với Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu 2/9 Đắk Lắk tổ chức cấp phát 60.000 cây giống cà phê TRS1 cho nông dân trên địa bàn, góp phần hỗ trợ tái canh, nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển ngành cà phê theo hướng bền vững.
Đắk Lắk chuẩn bị có cơ sở sơ chế 10.000 tấn trái cây xuất khẩu mỗi năm

Đắk Lắk chuẩn bị có cơ sở sơ chế 10.000 tấn trái cây xuất khẩu mỗi năm

Dự án “Cơ sở sơ chế trái cây, nông sản xuất khẩu” tại Cụm Công nghiệp Ea Đar, xã Ea Kar đang được kỳ vọng trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi chế biến và tiêu thụ nông sản của tỉnh Đắk Lắk. Khi đi vào hoạt động, dự án không chỉ góp phần nâng cao giá trị nông sản địa phương mà còn mở rộng thị trường xuất khẩu, thúc đẩy phát triển công nghiệp chế biến tại khu vực Tây Nguyên.
Đà Nẵng: Khởi sắc mô hình nuôi hươu sao liên kết chuỗi tại Khâm Đức

Đà Nẵng: Khởi sắc mô hình nuôi hươu sao liên kết chuỗi tại Khâm Đức

Mô hình nuôi hươu sao tại xã Khâm Đức (Đà Nẵng) mang lại hiệu quả kinh tế cao, giúp nhiều hộ đồng bào thoát nghèo bền vững nhờ liên kết chuỗi giá trị.
Dự án chanh dây vàng Eden được kỳ vọng trở thành ngành hàng nông sản xuất khẩu mới

Dự án chanh dây vàng Eden được kỳ vọng trở thành ngành hàng nông sản xuất khẩu mới

Dự án “Liên kết trồng chanh dây vàng – Eden” đang mở ra hướng đi mới cho ngành nông nghiệp khu vực Bình Thuận (cũ) thuộc tỉnh Lâm Đồng trong bối cảnh cây thanh long – từng là biểu tượng kinh tế nông nghiệp của địa phương – đối mặt với nhiều khó khăn về thị trường và hiệu quả sản xuất.
Nông dân Ấn Độ mở rộng trồng việt quất bằng mô hình nhà kính hiện đại

Nông dân Ấn Độ mở rộng trồng việt quất bằng mô hình nhà kính hiện đại

Ngành trồng việt quất tại Ấn Độ đang chuyển từ quy mô thử nghiệm sang thương mại hóa nhờ sự phát triển của nhà kính, hệ thống tưới chính xác và các giống việt quất ít cần lạnh. Xu hướng tiêu dùng thực phẩm lành mạnh cùng sự mở rộng của thương mại điện tử đang mở ra cơ hội lớn cho loại trái cây giá trị cao này.
Trung Quốc cam kết mua tối thiểu 17 tỷ USD nông sản Hoa Kỳ mỗi năm

Trung Quốc cam kết mua tối thiểu 17 tỷ USD nông sản Hoa Kỳ mỗi năm

Cam kết mới giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ về việc Bắc Kinh mua tối thiểu 17 tỷ USD nông sản mỗi năm giai đoạn 2026-2028 đang mở ra kỳ vọng phục hồi thương mại nông nghiệp song phương sau giai đoạn sụt giảm mạnh vì căng thẳng thuế quan. Thỏa thuận được công bố sau cuộc gặp giữa Tổng thống Donald Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh tuần trước.
Xây dựng người nông dân văn minh - nền tảng phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững

Xây dựng người nông dân văn minh - nền tảng phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững

Thực hiện nhiệm vụ của các cấp Hội Nông dân (HND) Việt Nam nhiệm kỳ 2023 – 2028 về xây dựng người nông dân Việt Nam văn minh, phát triển toàn diện, những năm qua, HND tỉnh Cao Bằng đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tế của một tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn. Các phong trào, hoạt động đã tạo sức lan toả mạnh mẽ, nhận được sự hưởng ứng tích cực của các cấp Hội và đông đảo hội viên, nông dân trên địa bàn tỉnh. Qua đó đạt nhiều kết quả thiết thực, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho hội viên, nông dân, tạo chuyển biến rõ nét trong nhận thức và hành động của người nông dân trên địa bàn tỉnh.
Khám phá vườn chà là trĩu quả ở vùng biên giới Đồng Tháp

Khám phá vườn chà là trĩu quả ở vùng biên giới Đồng Tháp

Từ những cánh đồng lúa bấp bênh vì mùa nước nổi, nhiều nông dân vùng biên giới Hồng Ngự (Đồng Tháp) đã mạnh dạn chuyển sang trồng chà là Trung Đông. Những vườn chà là xanh tốt, sai trĩu quả không chỉ mang lại thu nhập cao mà còn mở ra hướng phát triển nông nghiệp mới cho vùng đầu nguồn sông Cửu Long.
Vải trứng Hưng Yên vào vụ thu hoạch: Tuyệt phẩm OCOP 4 sao khẳng định đẳng cấp nông sản hạng sang

Vải trứng Hưng Yên vào vụ thu hoạch: Tuyệt phẩm OCOP 4 sao khẳng định đẳng cấp nông sản hạng sang

Tháng năm về mang theo cái nắng vàng rực rỡ của mùa hè, và đó cũng là lúc vùng đất phù sa Hưng Yên xôn xao bởi một thức quà đặc sản độc đáo: Vải trứng. Tại thôn Bình Nguyên, xã Nguyễn Trãi, những ngày này không khí thu hoạch đang diễn ra rộn ràng hơn bao giờ hết. Những vườn vải trứng trĩu quả bắt đầu chuyển từ sắc xanh sang màu đỏ rực rỡ, báo hiệu một mùa quả ngọt thành công rực rỡ.
Quỹ hỗ trợ nông dân - động lực thúc đẩy kinh tế nông thôn bền vững

Quỹ hỗ trợ nông dân - động lực thúc đẩy kinh tế nông thôn bền vững

Quỹ Hỗ trợ nông dân (HTND) tỉnh Cao Bằng đã và đang khẳng định vai trò quan trọng trong việc tiếp thêm nguồn lực cho hội viên nông dân trong tỉnh phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và giảm nghèo bền vững. Đối với tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn như Cao Bằng, nơi phần lớn dân cư sinh sống ở khu vực nông thôn và phụ thuộc chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp, thì việc phát huy hiệu quả nguồn vốn HTND đã góp phần tạo động lực thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển bền vững, củng cố tổ chức Hội nông dân (HND) các cấp, khơi dậy phong trào thi đua lao động sản xuất, chung sức xây dựng nông thôn mới và ổn định sinh kế cho người dân.
Lâm Đồng đẩy mạnh xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu, mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản

Lâm Đồng đẩy mạnh xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu, mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản

Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng vừa ban hành Kế hoạch số 77/KH-SNNMT phát triển ngành chế biến rau quả giai đoạn 2026–2030.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính