ki-niem-15-voaa
Thứ năm 16/07/2026 14:41Thứ năm 16/07/2026 14:41 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Khát vọng thuận thiên và sứ mệnh làm "trụ đỡ" thế kỷ

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Sự tương tác giữa canh tác bền vững, bảo tồn hệ sinh thái và ứng phó với thiên tai khốc liệt chính là chìa khóa cho bài toán an ninh lương thực.
Khát vọng thuận thiên và sứ mệnh làm
Ngành nông nghiệp được khẳng định vị thế quan trọng là trụ đỡ của nền kinh tế, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia. Ảnh minh họa.

Triết lý phát triển bền vững

Môi trường là tổng hòa các yếu tố tự nhiên và nhân tạo bao quanh sự sống của con người, có quan hệ mật thiết và ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống và phát triển của xã hội. Môi trường không chỉ có vai trò quan trọng trong cung cấp tài nguyên và lương thực, thực phẩm để đảm bảo sự sinh tồn của con người, mà còn tiếp nhận xử lý chất thải do hoạt động của con người tạo ra và điều hòa khí hậu, bảo vệ con người khỏi thiên tai, dịch bệnh.

Tuy nhiên, chính các hoạt động sinh tồn và phát triển của nhân loại, nhất là việc đốt nhiên liệu hóa thạch cho năng lượng, công nghiệp, giao thông và chất thải từ phương thức canh tác cũ đã góp phần làm cho nhiệt độ trái đất nóng lên. Những hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lũ lụt, hạn hán, nước biển dâng ngày càng diễn ra khốc liệt, tác động trực tiếp đến suy thoái hệ sinh thái và đe dọa không gian sinh tồn.

Chính vì vậy, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển nông nghiệp bền vững luôn có mối quan hệ tương hỗ với nhau, vừa là mục tiêu, vừa là nền tảng để đất nước phát triển bền vững. Theo tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hợp Quốc (FAO), nông nghiệp bền vững là quá trình quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, kỹ thuật và các yếu tố đầu vào của hoạt động sản xuất nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm và dịch vụ của con người, đồng thời đảm bảo khả năng duy trì các nguồn lực và hệ sinh thái cho các thế hệ tương lai. Hoạt động sản xuất nông nghiệp tạo ra lương thực, thực phẩm, cân bằng hệ sinh thái nhưng cũng là ngành sản xuất cơ bản dựa vào đất, nước, khí hậu và các chức năng được tạo ra từ sự tương tác giữa các thành tố của tự nhiên.

Ở Việt Nam, ngành nông nghiệp được khẳng định vị thế quan trọng là trụ đỡ của nền kinh tế, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia. Nông nghiệp Việt Nam đóng góp gần 12% GDP và thu hút 25% lực lượng lao động cả nước, là ngành kinh tế chủ lực trong tạo việc làm ở khu vực nông thôn, đảm bảo an ninh lương thực cho trên 100 triệu người dân. Sự phát triển của nông nghiệp trong những thập kỷ vừa qua đã đưa Việt Nam từ một nước thiếu lương thực trở thành quốc gia đảm bảo đủ cho nhu cầu nội địa và xuất khẩu hàng đầu thế giới.

Đến nay Việt Nam đã trở thành quốc gia xuất khẩu nông sản lớn trên bản đồ thương mại toàn cầu, với nhiều mặt hàng chủ lực như gạo, cà phê, hạt điều, hồ tiêu, cao su và thủy sản. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 70,09 tỷ USD, trong đó các mặt hàng nông sản đạt 37,25 tỷ USD; lâm sản đạt 18,5 tỷ USD; thủy sản đạt 11,32 tỷ USD, mang lại mức xuất siêu kỷ lục 20,7 tỷ USD. Nông nghiệp cũng đóng vai trò ổn định xã hội và giảm nghèo, là nguồn thu nhập chính cho hơn 60% dân số nông thôn, góp phần làm cải thiện đáng kể hệ thống cơ sở hạ tầng và nâng cao mức sống thông qua các Chương trình Mục tiêu quốc gia.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Thanh Nam nhấn mạnh, nông nghiệp bền vững là phương thức sản xuất nông nghiệp cân bằng, tích hợp đa giá trị tạo ra các sản phẩm dịch vụ mới, giá trị gia tăng mới, việc làm mới, cơ hội xuất khẩu cho nền kinh tế và đảm bảo lợi nhuận cho người sản xuất. Việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách khôn ngoan sẽ giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, tăng cường khả năng phục hồi của hệ sinh thái, đảm bảo sự công bằng, cải thiện sinh kế và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người nông dân.

Cuộc cách mạng xanh hóa toàn diện

Chiến lược phát triển ngành nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo Quyết định số 150/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã đặt mục tiêu phát triển nông nghiệp sinh thái thông qua áp dụng các tiêu chuẩn canh tác bền vững, nông nghiệp tuần hoàn, thông minh. Trên cơ sở đó, các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản đã có những bước chuyển mình ngoạn mục.

Về trồng trọt, cơ cấu cây trồng được chuyển đổi hiệu quả hơn theo hướng tập trung xây dựng các vùng sản xuất quy mô lớn, ứng dụng khoa học công nghệ và tổ chức sản xuất theo chuỗi. Kết quả là sản lượng lương thực có hạt năm 2024 ước đạt 48,1 triệu tấn, tăng 0,4%, và giá trị một ha đất trồng trọt năm 2024 ước đạt 127 triệu đồng, tăng 7,4% so với năm 2023. Diện tích canh tác hữu cơ tăng từ 53.000 ha năm 2016 lên khoảng 500.000 ha vào năm 2023, đưa Việt Nam đứng thứ 5 các quốc gia có diện tích nông nghiệp hữu cơ ở Châu Á.

Các quy trình sản xuất lúa chất lượng cao, an toàn, hữu cơ, như ba giảm ba tăng, một phải năm giảm, xuống giống tập trung né rầy, giảm lượng giống gieo sạ, bón phân theo chuyên vùng, tưới nước tiết kiệm được phát triển, nhân rộng. Công tác bảo vệ thực vật, quản lý phân bón yêu cầu hiệu quả hơn theo hướng nâng cao chất lượng, giảm thiểu tác động xấu đến môi trường. Tỷ lệ sản phẩm phân bón hữu cơ được phép lưu hành trong tổng lượng phân bón hằng năm đạt khoảng 27%, và tỷ lệ thuốc bảo vệ thực vật sinh học trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng đạt trên 30%.

Đặc biệt, Đề án phát triển một triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 theo Quyết định số 1490/QĐ-TTg sau hai năm triển khai đã đạt được nhiều kết quả bước đầu rất khả quan. Đề án đã hình thành trên 200 nghìn ha vùng chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp, tập trung tại các tỉnh sản xuất lúa trọng điểm.

Việc áp dụng đồng bộ các quy trình canh tác bền vững giúp giảm 30 - 40% lượng giống gieo sạ, 15 -30% phân bón hóa học, 20-30% thuốc bảo vệ thực vật, qua đó giảm chi phí sản xuất bình quân 1,7 - 3,0 triệu đồng/ha/vụ. Năng suất lúa tăng 0,2 - 0,5 tấn/ha, lợi nhuận của nông dân tăng 15 - 25% so với canh tác truyền thống, đồng thời phát thải khí nhà kính, đặc biệt là khí mê-tan, giảm khoảng 20 - 30%, góp phần nâng cao giá trị hạt gạo và thân thiện với môi trường.

Trong lĩnh vực chăn nuôi, quá trình chuyển đổi diễn ra mạnh mẽ từ hình thức chăn nuôi nông hộ, nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung, quy mô trang trại, ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, công nghệ cao. Ở lĩnh vực lâm nghiệp, tổng trữ lượng rừng quốc gia đã có xu hướng tăng trở lại, với mức tăng bình quân khoảng 2,4%/năm, tỷ lệ diện tích rừng trồng từ nguồn giống có kiểm soát và chứng nhận năm 2024 đạt 90%, tỷ lệ che phủ rừng duy trì ổn định ở mức 42,03%. Trên lĩnh vực thủy sản, tốc độ tăng trưởng sản lượng giai đoạn 2021-2025 đạt 3%/năm, tổng sản lượng thủy sản cả giai đoạn đạt gần 37 triệu tấn, trung bình trên 9 triệu tấn/năm nhờ đẩy mạnh các vùng nuôi ứng dụng công nghệ cao, an toàn sinh học.

Khát vọng thuận thiên và sứ mệnh làm
Ứng dụng công nghệ là khâu đột phá nhằm đưa nông nghiệp Việt Nam thành hình mẫu về phát triển nông nghiệp xanh. Ảnh minh họa.

Sự trỗi dậy của kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp cũng ghi nhận những kết quả nổi bật khi toàn bộ ngành dọc thay đổi nhận thức, xem chất thải và phụ phẩm là nguồn tài nguyên tái tạo. Hiện nay, cả nước phát sinh hàng năm khoảng gần 160 triệu tấn phụ phẩm nông nghiệp, trong đó hơn 52% phụ phẩm trồng trọt, 90% phụ phẩm thủy sản đã được thu gom và tái sử dụng, 48,2% hộ và 96,1% trang trại xử lý chất thải chăn nuôi.

Bốn loại mô hình chủ đạo bao gồm mô hình tạo và sử dụng khí sinh học; mô hình kết hợp sản xuất như VAC, lúa - tôm, lúa - cá, vườn - rừng; mô hình tái sử dụng phụ phẩm như rơm rạ để trồng nấm, sản xuất phân hữu cơ; và mô hình tiết chế hóa học nhờ vào các giải pháp sinh học đã mang lại hiệu quả rõ rệt.

Sự tương tác, cân bằng giữa phát triển nông nghiệp bền vững, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu là cách tiếp cận để phát huy vai trò trụ đỡ của nền kinh tế, trụ cột của phát triển bền vững trong bối cảnh mới.

Các biện pháp canh tác hiện đại, cơ giới hóa đồng bộ, chuyển đổi số ứng dụng thành tựu công nghệ 4.0 vào sản xuất ngày càng rộng rãi. Trong sản xuất lúa, tỷ lệ cơ giới hóa các khâu đạt trên 75%, tại các vùng chuyên canh đạt trên 95%. Các công nghệ IoT, Big Data, AI, GIS được ứng dụng phổ biến trong giám sát thời tiết, đất đai, cây trồng, vật nuôi, giúp nâng cao năng suất, chất lượng và kiểm soát rủi ro.

Trong chăn nuôi, công nghệ blockchain được ứng dụng để truy xuất nguồn gốc, kiểm soát dịch bệnh. Trong thủy sản, việc số hóa dữ liệu nuôi trồng, giám sát chất lượng nước giúp nâng cao hiệu quả sản xuất. Ở cấp độ cộng đồng, nhiều mô hình làng, xã thông minh, bước đầu hình thành nông thôn mới số, chuyển dịch mạnh mẽ từ các doanh nghiệp đầu ngành sang các hợp tác xã, tổ hợp tác và nông hộ.

Nhìn từ góc độ điều hành và quản trị, đại diện một doanh nghiệp nông nghiệp quy mô lớn chia sẻ rằng việc chuyển đổi sang mô hình sản xuất xanh, phát thải thấp và ứng dụng công nghệ số không còn là một lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành tấm vé bắt buộc để nông sản Việt Nam bước vào các chuỗi cung ứng toàn cầu. Đầu tư cho môi trường, cho các giải pháp canh tác thuận thiên chính là khoản đầu tư thông minh và mang lại lợi ích lâu dài cho cả doanh nghiệp lẫn người nông dân.

Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng GDP ngành nông nghiệp đạt từ 2,5 - 3%/năm. Để đạt được mục tiêu này, các địa phương đang tích cực hoàn thiện cơ chế chính sách, thúc đẩy tiêu dùng xanh, dán nhãn cho nông sản carbon thấp và kêu gọi các nguồn lực xã hội, hợp tác quốc tế đầu tư chuyển giao công nghệ.

Đổi mới tư duy, nhận thức có ý nghĩa quyết định, ứng dụng công nghệ là khâu đột phá nhằm đưa nông nghiệp Việt Nam thành hình mẫu về phát triển nông nghiệp xanh, sinh thái, thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu toàn cầu.

Bài liên quan

Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu siết chặt an toàn hồ chứa trước nguy cơ mưa lũ cực đoan

Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu siết chặt an toàn hồ chứa trước nguy cơ mưa lũ cực đoan

Hiện tượng El Nino được dự báo tiếp tục gia tăng cường độ trong những tháng tới, làm gia tăng nguy cơ thiếu hụt lượng mưa nhưng vẫn tiềm ẩn các đợt mưa lũ cực đoan. Trước diễn biến thời tiết phức tạp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu các địa phương khẩn trương rà soát, tăng cường các giải pháp bảo đảm an toàn đập, hồ chứa thủy lợi và vùng hạ du.
Đầu tư giáo dục vùng biên là vun đắp nền tảng cho sự phát triển bền vững của đất nước

Đầu tư giáo dục vùng biên là vun đắp nền tảng cho sự phát triển bền vững của đất nước

Các trường phổ thông nội trú liên cấp được kỳ vọng sẽ mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục cho học sinh vùng biên giới, nhất là con em đồng bào dân tộc thiểu số...
Bảo vệ động vật hoang dã - Hành động thiết thực vì sự phát triển bền vững

Bảo vệ động vật hoang dã - Hành động thiết thực vì sự phát triển bền vững

Việc bảo vệ động vật hoang dã là góp phần duy trì cân bằng hệ sinh thái và còn là trách nhiệm của mỗi cá nhân trong việc gìn giữ tài nguyên thiên nhiên...
Tp. Huế: Phường Thuận An đấu giá đất nông nghiệp, thúc đẩy phát triển bền vững

Tp. Huế: Phường Thuận An đấu giá đất nông nghiệp, thúc đẩy phát triển bền vững

Việc tổ chức đấu giá quỹ đất công ích góp phần khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai, tăng nguồn thu cho ngân sách và tạo cơ hội cho người dân...
BVTW Huế: Lan tỏa giá trị nhân văn, khẳng định bước tiến của y học Việt Nam

BVTW Huế: Lan tỏa giá trị nhân văn, khẳng định bước tiến của y học Việt Nam

Một bệnh nhân mắc xơ gan giai đoạn cuối đã được xuất viện trong tình trạng sức khỏe ổn định sau ca ghép gan từ người hiến chết não tại Bệnh viện Trung ương Huế
Bèo hoa dâu: Giải pháp sinh học giúp tăng năng suất lúa và giảm phát thải khí nhà kính

Bèo hoa dâu: Giải pháp sinh học giúp tăng năng suất lúa và giảm phát thải khí nhà kính

Bèo hoa dâu (Azolla) là giải pháp sinh học giúp cố định đạm, cải tạo đất, tăng năng suất cây trồng và giảm phát thải khí nhà kính, mở ra hướng phát triển nông nghiệp bền vững.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Quan hệ tương hỗ giữa số hoá và kinh tế xanh trong phát triển bền vững

Quan hệ tương hỗ giữa số hoá và kinh tế xanh trong phát triển bền vững

Số hoá và kinh tế xanh có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ trong phát triển bền vững. Công nghệ số giúp tối ưu sử dụng tài nguyên, giảm phát thải và nâng cao hiệu quả quản lý, trong khi kinh tế xanh tạo động lực cho đổi mới công nghệ sạch, thúc đẩy mô hình sản xuất, tiêu dùng thân thiện với môi trường và tăng trưởng dài hạn.
Giảm phát thải và loại bỏ khí nhà kính - Đột phá chiến lược để đạt được mục tiêu Net Zero

Giảm phát thải và loại bỏ khí nhà kính - Đột phá chiến lược để đạt được mục tiêu Net Zero

Biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng, giảm phát thải khí nhà kính đã trở thành nhiệm vụ cấp bách của toàn cầu. Nhiều quốc gia đã đưa ra cam kết đạt mức phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào giữa thế kỷ XXI nhằm hạn chế mức tăng nhiệt độ trái đất.
Đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình sản xuất rau hữu cơ tại tỉnh Tuyên Quang

Đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình sản xuất rau hữu cơ tại tỉnh Tuyên Quang

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình sản xuất rau hữu cơ tại tỉnh Tuyên Quang cho thấy, dù chi phí lao động cao hơn sản xuất truyền thống, mô hình vẫn mang lại lợi nhuận vượt trội, đồng thời giảm ô nhiễm môi trường, cải thiện độ phì nhiêu đất và góp phần thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển bền vững.
Phát động bình chọn các điển hình tiên tiến phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam năm 2026

Phát động bình chọn các điển hình tiên tiến phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam năm 2026

Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam (VOAA) vừa có Công văn đề nghị Ủy ban nhân dân, Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phối hợp giới thiệu, đề cử các tập thể, cá nhân tiêu biểu tham gia Chương trình “Lễ tôn vinh điển hình tiên tiến phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam lần thứ III – 2026”.
Nuôi trùn quế dưới điện mặt trời: Lợi ích “kép” trên một diện tích

Nuôi trùn quế dưới điện mặt trời: Lợi ích “kép” trên một diện tích

Tận dụng phần diện tích bên dưới các tấm pin để nuôi trùn quế đang mở ra hướng kết hợp giữa sản xuất năng lượng tái tạo và nông nghiệp hữu cơ tuần hoàn. Tuy nhiên, để mô hình phát huy hiệu quả, chủ đầu tư phải giải quyết đồng thời các yêu cầu về kỹ thuật nuôi, an toàn điện, môi trường, đất đai và đầu ra sản phẩm.
Lợi ích của thị trường carbon đối với Việt Nam

Lợi ích của thị trường carbon đối với Việt Nam

Biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, việc cắt giảm phát thải khí nhà kính đã trở thành ưu tiên hàng đầu của nhiều quốc gia. Tuy nhiên, giảm phát thải không chỉ là vấn đề môi trường mà còn liên quan mật thiết đến tăng trưởng kinh tế, năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.
Một số vấn đề về phát triển nông nghiệp xanh ở Việt Nam

Một số vấn đề về phát triển nông nghiệp xanh ở Việt Nam

Phát triển nông nghiệp xanh đang trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm hướng tới tăng trưởng bền vững ở Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình này vẫn đối mặt với nhiều khó khăn như quy mô sản xuất nhỏ lẻ, hạn chế về công nghệ, nguồn vốn và thị trường. Việc tháo gỡ các rào cản sẽ tạo động lực cho nông nghiệp xanh phát triển hiệu quả.
Bảo tồn và phát huy giá trị vườn quốc gia Cát Bà - di sản thiên nhiên thế giới thực trạng và giải pháp

Bảo tồn và phát huy giá trị vườn quốc gia Cát Bà - di sản thiên nhiên thế giới thực trạng và giải pháp

Vườn quốc gia Cát Bà, thành phần của Di sản Thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà, đang đối mặt với áp lực từ du lịch và biến đổi môi trường. Bài viết phân tích thực trạng bảo tồn, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm phát huy giá trị di sản theo hướng bền vững.
Ứng dụng phân hữu cơ vi sinh trong canh tác lúa để giảm sử dụng phân hóa học

Ứng dụng phân hữu cơ vi sinh trong canh tác lúa để giảm sử dụng phân hóa học

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả ứng dụng phân hữu cơ vi sinh trong canh tác lúa nhằm giảm sử dụng phân hóa học. Kết quả cho thấy có thể giảm 20–30% lượng phân hóa học mà vẫn duy trì hoặc tăng năng suất, đồng thời cải thiện độ phì đất, bảo vệ môi trường và nâng cao hiệu quả kinh tế cho nông dân.
Cấu trúc quản trị rừng và tác động đến hiệu quả môi trường - bằng chứng từ dữ liệu cấp tỉnh tại Việt Nam

Cấu trúc quản trị rừng và tác động đến hiệu quả môi trường - bằng chứng từ dữ liệu cấp tỉnh tại Việt Nam

Nghiên cứu này phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc quản trị rừng và hiệu quả môi trường tại Việt Nam, dựa trên dữ liệu tổng hợp từ 12 tỉnh theo báo cáo của các địa phương năm 2025. Kết quả cho thấy, hiệu quả môi trường (được phản ánh thông qua số vụ vi phạm lâm nghiệp và tiềm năng hấp thụ carbon) không phụ thuộc đơn thuần vào quy mô tài nguyên rừng, mà chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi cấu trúc quản trị, đặc biệt là mức độ phân cấp và xác lập quyền sở hữu rừng
Xây dựng thương hiệu quốc gia giúp nông sản Việt gia tăng giá trị bền vững

Xây dựng thương hiệu quốc gia giúp nông sản Việt gia tăng giá trị bền vững

Việc xây dựng thương hiệu quốc gia không chỉ nhằm giúp nông sản Việt bán được nhiều sản phẩm hơn, mà là để bán được giá cao hơn, đem về nhiều giá trị hơn cho đất nước, cho doanh nghiệp và đặc biệt là mang lại giá trị bền vững cho người nông dân.
Hiện trạng và giải pháp phát triển bền vững cây mắc ca tại tỉnh Đắk Lắk

Hiện trạng và giải pháp phát triển bền vững cây mắc ca tại tỉnh Đắk Lắk

Tỉnh Đắk Lắk có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển cây mắc ca, các nghiên cứu trồng khảo nghiệm mắc ca được thực hiện từ đầu những năm 2000 (năm 2002, 2004), kết quả cho thấy cây mắc ca có sự thích nghi tốt và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính