Chủ nhật 18/01/2026 09:33Chủ nhật 18/01/2026 09:33 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Cám gạo lên men: Thành phần thức ăn giàu protein cho tôm sú

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Quá trình lên men làm tăng hàm lượng protein, giảm hàm lượng xơ, cải thiện chất lượng axit amin và nâng cao hệ số tiêu hóa của cám gạo.
Cám gạo lên men: Thành phần thức ăn giàu protein cho tôm sú – Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Kỹ thuật lên men thể rắn

Nhiều quốc gia châu Á vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu thành phần thức ăn cho tôm sú, trong đó, khô đậu (SBM) là nguồn protein quan trọng nhất. Tuy nhiên, ngành nuôi trồng thủy sản đang cạnh tranh nguồn cung khô đậu với ngành chăn nuôi. Do đó, nguyên liệu thức ăn nội địa như cám gạo thu hút sự chú ý bởi giá rẻ và nguồn cung dồi dào.

Các sản phẩm từ gạo thường không được sử dụng trong thức ăn cho tôm vì chúng có giá tương đương sản phẩm từ lúa mì nhưng không có đặc tính kết dính thức ăn.

Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm cải thiện chất lượng cám gạo để tăng khả năng sử dụng như thành phần thức ăn chăn nuôi. Biến đổi sinh khối thông qua quá trình lên men thể rắn (SSF) là một trong những kỹ thuật như vậy. Quá trình này giúp tăng khả năng cung cấp dinh dưỡng qua những thay đổi do hoạt động trao đổi chất của vi sinh vật, làm tăng protein và đường hòa tan, đồng thời giảm các carbohydrate phức tạp.

Đến nay, chưa có báo cáo nào công bố về việc sử dụng cám gạo lên men (FRB) trong thức ăn cho tôm. Mới đây, trại giống của Viện Nuôi trồng Thủy sản, Khoa Thủy sản và Khoa học Đại dương, Đại học Philippines Visayas ở Miagao, Philippines đã thực hiện thử nghiệm với cám gạo lên men trên ấu trùng tôm sú (PL15) chất lượng tốt và sạch bệnh.

Ấu trùng tôm được thích nghi và nuôi trong ao bạt trong 30 ngày. Cuối giai đoạn ươm, tôm được chuyển sang hệ thống thí nghiệm. Con tôm giống được phân bố ngẫu nhiên vào 20 ị bể nhựa 60 lít có hệ thống nước biển tuần hoàn, mật độ 15 con tôm/bể và được thích nghi trong 7 ngày.

Thử nghiệm sử dụng cám gạo lên men (FRB) như một nguồn protein thay thế khô đậu (SBM) trong khẩu phần ăn cơ bản của tôm sú. Cụ thể, FRB thay thế SBM theo tỷ lệ 0% (T0), 12,5% (T12.5), 25% (T25), 37,5% (T37.5) và 50% (T50). Năm nghiệm thức đều có thành phần protein thô 44%, mỗi nghiệm thức được thực hiện lặp lại 4 lần và kéo dài 50 ngày.

Cải thiện giá trị dinh dưỡng cám gạo

Kết quả của nghiên cứu cho thấy quá trình lên men đã giảm khoảng bảy lần hàm lượng chất xơ trong cám gạo so với cám gạo chưa qua lên men. Hàm lượng chất xơ tổng (TDF) trong cám gạo dao động 20-30%, và gần 90% trong số đó là chất xơ không hòa tan (IDF). Hàm lượng cao xơ không hòa tan là nguyên nhân khiến giá trị dinh dưỡng của cám gạo thấp và việc sử dụng cám gạo trong thức ăn còn hạn chế.

Kỹ thuật lên men thể rắn đã làm tăng hàm lượng protein trong cám gạo lên khoảng ba lần so với nguyên liệu ban đầu. Số lượng axit amin trong FRB cũng tăng lên so với cám gạo chưa lên men, cho thấy sự cải thiện về chất lượng protein. Các nghiên cứu khác cũng ghi nhận sự cải thiện tương tự về hàm lượng protein và chất lượng axit amin. Sự cải thiện protein liên quan đến vi sinh vật, là tinh chất protein tự nhiên, vì nó chứa các protein dễ tiêu hóa với đầy đủ các axit amin thiết yếu.

Chỉ số axit amin thiết yếu của FRB đạt 84%, được đánh giá là một nguồn protein chất lượng tốt và tương đương khô đậu. Chỉ số điểm hóa học của FRB cho thấy tryptophan là axit amin hạn chế. Axit amin của cám gạo lên men phụ thuộc vào loài vi sinh vật và nguyên liệu được sử dụng trong quá trình lên men.

Thay thế khô đậu

Kết quả của nghiên cứu này xác nhận tính khả thi của FRB về thay thế khô đậu trong khẩu phần cho ấu trùng tôm sú. Việc thay thế 25% khô đậu bằng FRB đã mang lại sự cải thiện rõ rệt về tăng trọng, tốc độ tăng trưởng đặc hiệu, tỷ lệ chuyển hóa thức ăn và tỷ lệ hiệu quả protein. Thế nhưng, không có sự tác động đáng kể đến hiệu suất tăng trưởng khi thay thế khô đậu ở mức độ cao hơn. Điều này cho thấy quá trình lên men có thể cải thiện giá trị dinh dưỡng của cám gạo và có thể sử dụng để thay thế một phần khô đậu trong khẩu phần của tôm sú.

Trong nghiên cứu trên cá tra trước đây, FRB thay thế 20% SBM. Các nghiên cứu khác cũng báo cáo những tác động tích cực tới tăng trưởng của tôm khi thay thế SBM bằng chất thải nông nghiệp. Ví dụ, tôm thẻ được cải thiện tăng trưởng khi ăn bột khoai lang lên men.

FRB không ảnh hưởng tiêu cực tới thành phần dinh dưỡng của tôm sú. Hơn nữa, khả năng giữ protein ở tôm được cải thiện khi thay thế SBM lên đến 25%. Tuy nhiên, khi thay thế SBM ở mức cao hơn, mức độ giữ protein tương tự như nhóm đối chứng do sự gia tăng axit amin thiết yếu trong các khẩu phần có chứa FRB, dẫn đến khả năng giữ protein hiệu quả hơn. Kết quả này trái ngược với các nghiên cứu khác, trong đó việc thay thế một phần SBM bằng các chất thải nông nghiệp lên men không có tác động đáng kể đến khả năng giữ protein của tôm.

Phân tích axit amin của tôm sú sau thử nghiệm cho ăn cho thấy mức lysine trong tôm được cho ăn 50% FRB thay thế khô đậu cao hơn đáng kể so với nhóm đối chứng. Lysine, cùng với nhiều axit amin khác, đóng vai trò quan trọng trong hương vị của tôm. Hơn nữa, axit glutamic – một chất quyết định vị ngon, tăng cao hơn ở nhóm tôm sú ăn 50% FRB. Những kết quả này cho thấy FRB có thể cải thiện các đặc tính cảm quan của tôm sú.

Nghiên cứu hiện tại chỉ ra rằng quá trình lên men thể rắn có thể cải thiện giá trị dinh dưỡng của cám gạo thành nguyên liệu thức ăn giàu protein cho tôm sú bằng cách làm tăng hàm lượng protein, giảm hàm lượng xơ, cải thiện axit amin và nâng cao hệ số tiêu hóa của nguyên liệu. Kết quả cho thấy FRB có thể thay thế một phần SBM trong khẩu phần ăn mà không ảnh hưởng đến hiệu suất tăng trưởng và giá trị dinh dưỡng của tôm.

Việc thay thế 25% SBM bằng FRB giúp tăng trưởng tôm, và thay thế 50% FRB có thể thay thế hoàn toàn SBM mà không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của tôm. Do đó, cần nghiên cứu thêm để đánh giá việc thay thế hoàn toàn SBM bằng FRB.

Bài liên quan

Chi cục Hải quan khu vực XVI thu ngân sách nhà nước hơn 2.570 tỷ đồng

Chi cục Hải quan khu vực XVI thu ngân sách nhà nước hơn 2.570 tỷ đồng

Chi cục Hải quan khu vực XVI quản lý nhà nước về hải quan trên địa bàn hai tỉnh Cao Bằng, Tuyên Quang.
Nguy cơ nuốt hàng ngàn hạt vi nhựa khi dùng cốc cà phê một lần

Nguy cơ nuốt hàng ngàn hạt vi nhựa khi dùng cốc cà phê một lần

Australia- Nếu một người uống 300 ml cà phê nóng trong cốc nhựa mỗi ngày, họ có thể nuốt phải 363.000 hạt vi nhựa mỗi năm, theo nghiên cứu từ Đại học Griffith (Australia).
Phương pháp ủ phân hữu cơ tại nhà nhà từ trứng, sữa, cám gạo

Phương pháp ủ phân hữu cơ tại nhà nhà từ trứng, sữa, cám gạo

Tự tạo phân hữu cơ ngay tại nhà bạn bằng những thành phần rác thải sinh hoạt như xác cây, rau, hoa quả thừa, bã cà phê, cỏ vụn, vỏ trứng giúp đất thêm màu mỡ, rau khỏe mạnh và không tốn quá nhiều chi phí cũng như công sức để làm.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Từ phế phẩm cà rốt đến ‘lời giải’ bền vững cho thị trường protein thay thế

Từ phế phẩm cà rốt đến ‘lời giải’ bền vững cho thị trường protein thay thế

Trước những thách thức chưa từng có do biến đổi khí hậu và sự gia tăng dân số, việc tìm kiếm các nguồn protein thay thế bền vững trở thành ưu tiên hàng đầu của các nhà khoa học nông nghiệp.
Hiệu quả từ việc sử dụng chế phẩm sinh học trong chăn nuôi gà ở Thái Nguyên

Hiệu quả từ việc sử dụng chế phẩm sinh học trong chăn nuôi gà ở Thái Nguyên

Thái Nguyên đang chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của các mô hình chăn nuôi tập trung quy mô lớn, kéo theo yêu cầu xử lý chất thải hiệu quả để bảo đảm môi trường.
9 loài hoa dại có thể giúp nông dân phòng virus khoai tây: Giải pháp sinh học từ tự nhiên

9 loài hoa dại có thể giúp nông dân phòng virus khoai tây: Giải pháp sinh học từ tự nhiên

Virus khoai tây Y là mối đe dọa lớn đối với các vùng trồng khoai ở Bắc Mỹ và châu Âu, gây hoại tử lá – củ và có thể khiến ruộng mất trắng khi lây lan qua rệp. Thay vì chỉ phụ thuộc giống sạch bệnh, quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) chỉ ra rằng trồng hoa dại để thu hút thiên địch có thể giúp nông dân kiểm soát rệp, giảm nguy cơ virus xâm nhập và lan rộng.
Rút ngắn thời gian ủ phân: Giải pháp hữu cơ tăng sức sống cho đất trồng

Rút ngắn thời gian ủ phân: Giải pháp hữu cơ tăng sức sống cho đất trồng

Ủ phân hữu cơ giúp giảm rác thải nông nghiệp, cải thiện đất và tiết kiệm chi phí phân bón, nhưng quá trình phân hủy thường kéo dài khiến nhiều nông hộ gặp khó khăn. Bằng cách đảo trộn thường xuyên, duy trì độ ẩm, tăng oxy, bổ sung phụ gia hợp lý và giữ kích thước đống ủ chuẩn, thời gian ủ có thể rút ngắn còn khoảng 4 tuần – cho ra nguồn phân giàu dinh dưỡng phục vụ mùa vụ mới.
Tiêu chí xác định nguy cơ xâm hại của loài ngoại lai

Tiêu chí xác định nguy cơ xâm hại của loài ngoại lai

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Thông tư 69/2025/TT-BNNMT quy định về Danh mục loài ngoại lai xâm hại.
Tái chế chất thải nông nghiệp - giải pháp căn cơ cho bài toán môi trường nông thôn

Tái chế chất thải nông nghiệp - giải pháp căn cơ cho bài toán môi trường nông thôn

Trong quá trình phát triển nông nghiệp, chất thải và phụ phẩm nông nghiệp đang trở thành thách thức lớn đối với môi trường nông thôn. Rơm rạ sau thu hoạch, phân gia súc, gia cầm, phụ phẩm từ trồng trọt và chăn nuôi nếu không được xử lý đúng cách sẽ gây ô nhiễm đất, nguồn nước, không khí và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng.
Baking soda ‘kháng sinh tự nhiên’ cho cây trồng: Phun đúng cách, nấm mốc biến mất

Baking soda ‘kháng sinh tự nhiên’ cho cây trồng: Phun đúng cách, nấm mốc biến mất

Một muỗng bột trong bếp hóa ra lại có thể cứu cả luống rau trước nguy cơ bị nấm phá hoại. Baking soda nguyên liệu quen thuộc tưởng như chỉ dùng làm bánh lại là “vũ khí” nhẹ nhàng nhưng đáng giá trong làm vườn. Phun định kỳ đúng kỹ thuật, cây trồng sẽ sạch nấm, khỏe mạnh và không cần đến thuốc hóa học.
Giải pháp BIO-FTN: giảm bệnh nâu, nâng sức đề kháng cho thanh long

Giải pháp BIO-FTN: giảm bệnh nâu, nâng sức đề kháng cho thanh long

Thay vì phụ thuộc vào hóa chất và chặt bỏ cây bệnh, nghiên cứu mới cho thấy việc ứng dụng vi sinh vật đối kháng vào đất và thân cây có thể giảm sự phát tán của nấm gây bệnh đốm nâu, giúp cây thanh long phục hồi và nâng cao khả năng kháng bệnh theo cơ chế tự nhiên.
Chất kích thích sinh học và phân bón: Khác biệt ở đâu và tác động thế nào đến sự phát triển cây trồng?

Chất kích thích sinh học và phân bón: Khác biệt ở đâu và tác động thế nào đến sự phát triển cây trồng?

Trong bối cảnh canh tác tái sinh và nông nghiệp bền vững ngày càng nhận được sự quan tâm, các chất kích thích sinh học đang nổi lên như một giải pháp bổ trợ nhằm cải thiện sức khỏe đất và tối ưu năng suất. Tuy nhiên, so với phân bón – vốn đã quen thuộc và hiện hữu trong mọi mô hình sản xuất – hiệu quả và vai trò của chất kích thích sinh học vẫn là chủ đề khiến nhiều nông dân băn khoăn.
Than sinh học từ vỏ trấu giúp cải tạo độ mặn của đất nông nghiệp

Than sinh học từ vỏ trấu giúp cải tạo độ mặn của đất nông nghiệp

Than sinh học được nghiên cứu khá nhiều về cơ chế làm giảm nồng độ các kim loại nặng có trong nước, đất. Sử dụng than sinh học giúp tăng lượng carbon hữu cơ trong đất, giảm phát thải khí nhà kính và cải thiện tính chất của đất, nâng cao năng suất cây trồng.
Sử dụng lá ổi phòng bệnh trong nuôi trồng thủy sản

Sử dụng lá ổi phòng bệnh trong nuôi trồng thủy sản

Ổi, loại cây trồng phổ biến trong nhiều vùng trên thế giới, không chỉ là nguồn cung cấp trái cây giàu dinh dưỡng mà còn được biết đến với các tính chất y học và thảo dược. Trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, lá ổi đã được chứng minh là một nguồn tài nguyên quý giá, mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe của thủy sản.
Khuyến cáo sử dụng chế phẩm vi sinh trong thức ăn cho lợn

Khuyến cáo sử dụng chế phẩm vi sinh trong thức ăn cho lợn

Để phòng chống bệnh dịch tả lợn châu Phi, Bộ Nông nghiệp và PTNT khuyến cáo nông dân sử dụng thức ăn có bổ sung chế phẩm sinh học trong chăn nuôi lợn.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính