Thứ tư 04/03/2026 18:08Thứ tư 04/03/2026 18:08 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Cám gạo lên men: Thành phần thức ăn giàu protein cho tôm sú

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Quá trình lên men làm tăng hàm lượng protein, giảm hàm lượng xơ, cải thiện chất lượng axit amin và nâng cao hệ số tiêu hóa của cám gạo.
Cám gạo lên men: Thành phần thức ăn giàu protein cho tôm sú – Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Kỹ thuật lên men thể rắn

Nhiều quốc gia châu Á vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu thành phần thức ăn cho tôm sú, trong đó, khô đậu (SBM) là nguồn protein quan trọng nhất. Tuy nhiên, ngành nuôi trồng thủy sản đang cạnh tranh nguồn cung khô đậu với ngành chăn nuôi. Do đó, nguyên liệu thức ăn nội địa như cám gạo thu hút sự chú ý bởi giá rẻ và nguồn cung dồi dào.

Các sản phẩm từ gạo thường không được sử dụng trong thức ăn cho tôm vì chúng có giá tương đương sản phẩm từ lúa mì nhưng không có đặc tính kết dính thức ăn.

Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm cải thiện chất lượng cám gạo để tăng khả năng sử dụng như thành phần thức ăn chăn nuôi. Biến đổi sinh khối thông qua quá trình lên men thể rắn (SSF) là một trong những kỹ thuật như vậy. Quá trình này giúp tăng khả năng cung cấp dinh dưỡng qua những thay đổi do hoạt động trao đổi chất của vi sinh vật, làm tăng protein và đường hòa tan, đồng thời giảm các carbohydrate phức tạp.

Đến nay, chưa có báo cáo nào công bố về việc sử dụng cám gạo lên men (FRB) trong thức ăn cho tôm. Mới đây, trại giống của Viện Nuôi trồng Thủy sản, Khoa Thủy sản và Khoa học Đại dương, Đại học Philippines Visayas ở Miagao, Philippines đã thực hiện thử nghiệm với cám gạo lên men trên ấu trùng tôm sú (PL15) chất lượng tốt và sạch bệnh.

Ấu trùng tôm được thích nghi và nuôi trong ao bạt trong 30 ngày. Cuối giai đoạn ươm, tôm được chuyển sang hệ thống thí nghiệm. Con tôm giống được phân bố ngẫu nhiên vào 20 ị bể nhựa 60 lít có hệ thống nước biển tuần hoàn, mật độ 15 con tôm/bể và được thích nghi trong 7 ngày.

Thử nghiệm sử dụng cám gạo lên men (FRB) như một nguồn protein thay thế khô đậu (SBM) trong khẩu phần ăn cơ bản của tôm sú. Cụ thể, FRB thay thế SBM theo tỷ lệ 0% (T0), 12,5% (T12.5), 25% (T25), 37,5% (T37.5) và 50% (T50). Năm nghiệm thức đều có thành phần protein thô 44%, mỗi nghiệm thức được thực hiện lặp lại 4 lần và kéo dài 50 ngày.

Cải thiện giá trị dinh dưỡng cám gạo

Kết quả của nghiên cứu cho thấy quá trình lên men đã giảm khoảng bảy lần hàm lượng chất xơ trong cám gạo so với cám gạo chưa qua lên men. Hàm lượng chất xơ tổng (TDF) trong cám gạo dao động 20-30%, và gần 90% trong số đó là chất xơ không hòa tan (IDF). Hàm lượng cao xơ không hòa tan là nguyên nhân khiến giá trị dinh dưỡng của cám gạo thấp và việc sử dụng cám gạo trong thức ăn còn hạn chế.

Kỹ thuật lên men thể rắn đã làm tăng hàm lượng protein trong cám gạo lên khoảng ba lần so với nguyên liệu ban đầu. Số lượng axit amin trong FRB cũng tăng lên so với cám gạo chưa lên men, cho thấy sự cải thiện về chất lượng protein. Các nghiên cứu khác cũng ghi nhận sự cải thiện tương tự về hàm lượng protein và chất lượng axit amin. Sự cải thiện protein liên quan đến vi sinh vật, là tinh chất protein tự nhiên, vì nó chứa các protein dễ tiêu hóa với đầy đủ các axit amin thiết yếu.

Chỉ số axit amin thiết yếu của FRB đạt 84%, được đánh giá là một nguồn protein chất lượng tốt và tương đương khô đậu. Chỉ số điểm hóa học của FRB cho thấy tryptophan là axit amin hạn chế. Axit amin của cám gạo lên men phụ thuộc vào loài vi sinh vật và nguyên liệu được sử dụng trong quá trình lên men.

Thay thế khô đậu

Kết quả của nghiên cứu này xác nhận tính khả thi của FRB về thay thế khô đậu trong khẩu phần cho ấu trùng tôm sú. Việc thay thế 25% khô đậu bằng FRB đã mang lại sự cải thiện rõ rệt về tăng trọng, tốc độ tăng trưởng đặc hiệu, tỷ lệ chuyển hóa thức ăn và tỷ lệ hiệu quả protein. Thế nhưng, không có sự tác động đáng kể đến hiệu suất tăng trưởng khi thay thế khô đậu ở mức độ cao hơn. Điều này cho thấy quá trình lên men có thể cải thiện giá trị dinh dưỡng của cám gạo và có thể sử dụng để thay thế một phần khô đậu trong khẩu phần của tôm sú.

Trong nghiên cứu trên cá tra trước đây, FRB thay thế 20% SBM. Các nghiên cứu khác cũng báo cáo những tác động tích cực tới tăng trưởng của tôm khi thay thế SBM bằng chất thải nông nghiệp. Ví dụ, tôm thẻ được cải thiện tăng trưởng khi ăn bột khoai lang lên men.

FRB không ảnh hưởng tiêu cực tới thành phần dinh dưỡng của tôm sú. Hơn nữa, khả năng giữ protein ở tôm được cải thiện khi thay thế SBM lên đến 25%. Tuy nhiên, khi thay thế SBM ở mức cao hơn, mức độ giữ protein tương tự như nhóm đối chứng do sự gia tăng axit amin thiết yếu trong các khẩu phần có chứa FRB, dẫn đến khả năng giữ protein hiệu quả hơn. Kết quả này trái ngược với các nghiên cứu khác, trong đó việc thay thế một phần SBM bằng các chất thải nông nghiệp lên men không có tác động đáng kể đến khả năng giữ protein của tôm.

Phân tích axit amin của tôm sú sau thử nghiệm cho ăn cho thấy mức lysine trong tôm được cho ăn 50% FRB thay thế khô đậu cao hơn đáng kể so với nhóm đối chứng. Lysine, cùng với nhiều axit amin khác, đóng vai trò quan trọng trong hương vị của tôm. Hơn nữa, axit glutamic – một chất quyết định vị ngon, tăng cao hơn ở nhóm tôm sú ăn 50% FRB. Những kết quả này cho thấy FRB có thể cải thiện các đặc tính cảm quan của tôm sú.

Nghiên cứu hiện tại chỉ ra rằng quá trình lên men thể rắn có thể cải thiện giá trị dinh dưỡng của cám gạo thành nguyên liệu thức ăn giàu protein cho tôm sú bằng cách làm tăng hàm lượng protein, giảm hàm lượng xơ, cải thiện axit amin và nâng cao hệ số tiêu hóa của nguyên liệu. Kết quả cho thấy FRB có thể thay thế một phần SBM trong khẩu phần ăn mà không ảnh hưởng đến hiệu suất tăng trưởng và giá trị dinh dưỡng của tôm.

Việc thay thế 25% SBM bằng FRB giúp tăng trưởng tôm, và thay thế 50% FRB có thể thay thế hoàn toàn SBM mà không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của tôm. Do đó, cần nghiên cứu thêm để đánh giá việc thay thế hoàn toàn SBM bằng FRB.

Bài liên quan

Chi cục Hải quan khu vực XVI thu ngân sách nhà nước hơn 2.570 tỷ đồng

Chi cục Hải quan khu vực XVI thu ngân sách nhà nước hơn 2.570 tỷ đồng

Chi cục Hải quan khu vực XVI quản lý nhà nước về hải quan trên địa bàn hai tỉnh Cao Bằng, Tuyên Quang.
Nguy cơ nuốt hàng ngàn hạt vi nhựa khi dùng cốc cà phê một lần

Nguy cơ nuốt hàng ngàn hạt vi nhựa khi dùng cốc cà phê một lần

Australia- Nếu một người uống 300 ml cà phê nóng trong cốc nhựa mỗi ngày, họ có thể nuốt phải 363.000 hạt vi nhựa mỗi năm, theo nghiên cứu từ Đại học Griffith (Australia).
Phương pháp ủ phân hữu cơ tại nhà nhà từ trứng, sữa, cám gạo

Phương pháp ủ phân hữu cơ tại nhà nhà từ trứng, sữa, cám gạo

Tự tạo phân hữu cơ ngay tại nhà bạn bằng những thành phần rác thải sinh hoạt như xác cây, rau, hoa quả thừa, bã cà phê, cỏ vụn, vỏ trứng giúp đất thêm màu mỡ, rau khỏe mạnh và không tốn quá nhiều chi phí cũng như công sức để làm.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Công nghệ sinh học cải thiện chất lượng nguồn giống

Công nghệ sinh học cải thiện chất lượng nguồn giống

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, ngành nông nghiệp đang đứng trước áp lực về đổi mới nguồn giống, gen thích ứng với điều kiện sinh thái mới. Để giải quyết bài toán này, UBND tỉnh Bắc Ninh vừa ban hành Đề án “Ứng dụng công nghệ sinh học xây dựng và phát triển ngành công nghiệp sinh học tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030, định hướng đến năm 2045” với mục tiêu đưa nhanh những tiến bộ công nghệ sinh học vào cải thiện di truyền và nâng cao chất lượng giống.
Ruồi lính đen “chìa khóa vàng” mở cánh cửa cho nông nghiệp tuần hoàn, hữu cơ hiện đại

Ruồi lính đen “chìa khóa vàng” mở cánh cửa cho nông nghiệp tuần hoàn, hữu cơ hiện đại

Trong khi biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt trên phạm vi toàn cầu, tài nguyên thiên nhiên suy giảm và áp lực xử lý chất thải nông nghiệp - sinh hoạt ngày càng lớn, nông nghiệp truyền thống đang đứng trước yêu cầu phải chuyển đổi mạnh mẽ sang mô hình phát triển bền vững. Nông nghiệp tuần hoàn, hữu cơ vì thế trở thành xu hướng tất yếu, trong đó việc tận dụng phế phụ phẩm, tái tạo tài nguyên và giảm phát thải là những trụ cột quan trọng. Giữa bức tranh đó, ruồi lính đen (Black Soldier Fly - BSF) nổi lên như một giải pháp sinh học đột phá, được ví như “chìa khóa vàng” mở ra cánh cửa cho nông nghiệp tuần hoàn, hữu cơ hiện đại.
HTX tận dụng vỏ cà phê, biến phế phẩm thành giá trị kinh tế tuần hoàn

HTX tận dụng vỏ cà phê, biến phế phẩm thành giá trị kinh tế tuần hoàn

Nhiều HTX đang đẩy mạnh chế biến vỏ cà phê thành phân bón hữu cơ và sản phẩm giá trị gia tăng, giúp tiết kiệm chi phí sản xuất, giảm phát thải và hoàn thiện mô hình nông nghiệp xanh, tuần hoàn trong bối cảnh yêu cầu bền vững ngày càng cao.
Đồng Nai hợp tác với Nhật Bản phát triển dự án xử lý vỏ ca cao thành than sinh học

Đồng Nai hợp tác với Nhật Bản phát triển dự án xử lý vỏ ca cao thành than sinh học

Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Nai vừa phối hợp với Công ty TNHH Ca cao Trọng Đức và Công ty Cổ phần Tromso (Nhật Bản) tổ chức Lễ ký kết hợp tác phát triển Dự án xử lý vỏ ca cao sản xuất than sinh học. Dự án hướng đến xây dựng mô hình nông nghiệp tuần hoàn, canh tác giảm phát thải và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh.
Malaysia định hướng phát triển nền kinh tế sinh học

Malaysia định hướng phát triển nền kinh tế sinh học

Malaysia xác định 6 lĩnh vực then chốt tăng trưởng nhanh trong 5 năm tới của quốc gia này bao gồm: Protein thế hệ mới, nhân giống tái tạo, vật liệu bền vững, hóa chất sinh học, y học tái tạo và chẩn đoán chính xác.
Camelina sativa: Từ cây trồng chịu lạnh đến nguồn nguyên liệu nhựa sinh học

Camelina sativa: Từ cây trồng chịu lạnh đến nguồn nguyên liệu nhựa sinh học

Trong bối cảnh nhu cầu dầu thực vật, protein và vật liệu thân thiện môi trường ngày càng gia tăng, cây Camelina sativa – còn gọi là cây lanh giả – đang được giới khoa học và doanh nghiệp công nghệ sinh học kỳ vọng sẽ trở thành cây trồng chiến lược mới, không chỉ trong nông nghiệp mà còn trong ngành công nghiệp nhựa sinh học.
Hướng đi mới cho công nghiệp sinh học từ cây cỏ voi

Hướng đi mới cho công nghiệp sinh học từ cây cỏ voi

Cỏ voi (miscanthus giganteus) đang ngày càng thu hút sự quan tâm của giới công nghiệp Pháp. Với năng suất cao và đặc tính thân thiện môi trường, loại cây trồng lâu này chủ yếu được sử dụng trong nông nghiệp này đang dần trở thành nguồn nguyên liệu sinh học mới cho các ngành xây dựng, ô tô và bao bì.
Tận dụng phụ phẩm cây điều già chế biến than sinh khối

Tận dụng phụ phẩm cây điều già chế biến than sinh khối

Những phụ phẩm từ thân điều già lâu nay tưởng chừng bỏ đi, không đem lại mấy ích lợi cho nhà vườn, nay những thứ ấy lại được các chủ vựa săn đón, tìm mua để vận chuyển vào Đông Nam Bộ bán cho doanh nghiệp chế biến than sinh khối. Không ít chủ vườn cây trồng lâu năm ấy ở các xã Hàm Tân, Sơn Mỹ, Tân Minh có thêm khoản trang trải trước Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026.
Vai trò của phân vi sinh với nông nghiệp hữu cơ

Vai trò của phân vi sinh với nông nghiệp hữu cơ

Phân vi sinh và nông nghiệp xanh đang trở thành một trong những trụ cột quan trọng của quá trình chuyển đổi nông nghiệp theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Khi tài nguyên đất đai suy giảm, ô nhiễm môi trường gia tăng và yêu cầu ngày càng cao của thị trường đối với nông sản an toàn, phân vi sinh không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà còn là lựa chọn chiến lược cho tương lai của nông nghiệp xanh.
Từ phế phẩm cà rốt đến ‘lời giải’ bền vững cho thị trường protein thay thế

Từ phế phẩm cà rốt đến ‘lời giải’ bền vững cho thị trường protein thay thế

Trước những thách thức chưa từng có do biến đổi khí hậu và sự gia tăng dân số, việc tìm kiếm các nguồn protein thay thế bền vững trở thành ưu tiên hàng đầu của các nhà khoa học nông nghiệp.
Hiệu quả từ việc sử dụng chế phẩm sinh học trong chăn nuôi gà ở Thái Nguyên

Hiệu quả từ việc sử dụng chế phẩm sinh học trong chăn nuôi gà ở Thái Nguyên

Thái Nguyên đang chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của các mô hình chăn nuôi tập trung quy mô lớn, kéo theo yêu cầu xử lý chất thải hiệu quả để bảo đảm môi trường.
9 loài hoa dại có thể giúp nông dân phòng virus khoai tây: Giải pháp sinh học từ tự nhiên

9 loài hoa dại có thể giúp nông dân phòng virus khoai tây: Giải pháp sinh học từ tự nhiên

Virus khoai tây Y là mối đe dọa lớn đối với các vùng trồng khoai ở Bắc Mỹ và châu Âu, gây hoại tử lá – củ và có thể khiến ruộng mất trắng khi lây lan qua rệp. Thay vì chỉ phụ thuộc giống sạch bệnh, quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) chỉ ra rằng trồng hoa dại để thu hút thiên địch có thể giúp nông dân kiểm soát rệp, giảm nguy cơ virus xâm nhập và lan rộng.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính