![]() |
Người nông dân - chủ thể của sản phẩm hữu cơ
Nhiều năm qua, sản xuất nông nghiệp hữu cơ có bước phát triển khá nhanh và trở thành hướng đi tất yếu. Nhưng, để cây trái sạch thực sự thành nền tảng cho kinh tế nông nghiệp xanh, cần một cấu trúc liên kết chặt chẽ: Nông dân hiểu nghề, doanh nghiệp hiểu thị trường, Nhà nước kiến tạo không gian và hành lang pháp lý – Đó là vấn đề lớn đặt ra cho những năm tới không chỉ là “làm gì”, mà còn là “làm thế nào” để mối liên kết ấy vận hành hiệu quả, thực chất.
Người nông dân chính là “gốc” của mọi sản phẩm sạch. Muốn liên kết dài và bền vững, trước hết phải củng cố năng lực của họ. Vậy họ làm gì và làm thế nào?
Là cùng nắm tay nhau, bền tâm tổ chức lại sản xuất theo tổ hợp tác, hợp tác xã hữu cơ, có quy trình chung, nhật ký chung, tuân thủ tiêu chuẩn rõ ràng. Và cùng nhau học tập, nâng cao kiến thức canh tác hữu cơ, quản lý dịch hại sinh học, bảo vệ đất – nước. Doanh nghiệp cùng xuống đồng hướng dẫn quy trình để sản phẩm đạt chuẩn mà họ cần. Nhà nước hỗ trợ chi phí chứng nhận hữu cơ, đào tạo, chuyển giao kỹ thuật và hỗ trợ thông tin thị trường.
Một ví dụ điển hình ở hợp tác xã thanh long hữu cơ (tỉnh Bình Thuận) cho thấy, khi nông dân thống nhất quy trình, cùng ghi chép sản xuất và được hướng dẫn trực tiếp, chất lượng trái ổn định, tỷ lệ sâu bệnh giảm, giá thu mua tăng 15 –20 % so với trước.
Doanh nghiệp - cầu nối sản phẩm hữu cơ với thị trường
Doanh nghiệp không chỉ mua sản phẩm mà còn là người “đặt bài, đặt hàng” cho cả cánh đồng và hợp tác xã; tham gia ngay từ khâu lập kế hoạch sản xuất: Từ việc đầu tư vùng nguyên liệu, cung ứng vật tư phù hợp chuẩn hữu cơ, đặt hàng với sản lượng – chất lượng rõ ràng. Theo đó, là minh bạch giá thu mua và hợp đồng dài hạn.
Vậy, làm thế nào? Với mục tiêu dài là xây dựng chuỗi giá trị hữu cơ, có truy xuất nguồn gốc bằng mã QR, blockchain và thương hiệu. Thêm vào đó, doanh nghiệp cần hỗ trợ hợp tác xã tiếp cận chứng nhận quốc tế như EU Organic, USDA Organic; Thu mua, bảo quản, đưa nông sản hữu cơ lên các sàn thương mại điện tử, chuỗi siêu thị và xuất khẩu chính ngạch.
Nhờ doanh nghiệp đồng hành, mô hình rau hữu cơ ở Lạc Dương (Lâm Đồng) đã đưa được những bó xà lách – cải thìa sạch vào hệ thống siêu thị lớn, điểm bán có chỉ dẫn - giá trị cao hơn nhiều so với nông sản thông thường.
![]() |
Nhà nước - kiến tạo, bảo hộ niềm tin
Thực tế cho thấy, trong chuỗi nông sản hữu cơ thì nông dân, doanh nghiệp là tác nhân đầu tiên trong chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị nông sản. Song, không có vai trò điều phối và kiến tạo của Nhà nước thì các liên kết khó bền. Nên vậy, hoạt động quản lý của Nhà nước cần hoàn thiện bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn hữu cơ đồng bộ, dễ kiểm soát; hỗ trợ tín dụng ưu đãi cho sản xuất hữu cơ. Gắn liền với quy hoạch vùng sản xuất tập trung; đầu tư hạ tầng giao thông, thủy lợi, kho bảo quản. Đồng thời, tăng cường kiểm tra chống gian lận “hữu cơ giả hữu cơ”.
Vậy, làm thế nào? Việc cần ngay là áp dụng cơ chế “một cửa” về chứng nhận, giúp giảm thủ tục và chi phí. Hỗ trợ doanh nghiệp – hợp tác xã theo mô hình đối tác công tư (PPP); xây dựng bản đồ số vùng sản xuất hữu cơ, công khai dữ liệu để doanh nghiệp dễ liên kết. Khi chính quyền địa phương đồng hành, như ở huyện Yên Thành (Nghệ An) hay Văn Giang (Hưng Yên), các vùng sản xuất hữu cơ được quy hoạch bài bản, gắn với du lịch nông nghiệp, mở thêm đầu ra ổn định cho sản phẩm.
Liên kết bằng hợp đồng - niềm tin - lợi ích
Liên kết chỉ thực sự hiệu quả khi có cơ chế chia sẻ rủi ro và lợi ích rõ ràng. Vậy, “3 nhà” cần ngồi lại với nhau nhiều hơn nữa, bàn công việc kỹ càng hơn nữa như: Ký hợp đồng bao tiêu minh bạch về giá, sản lượng, tiêu chuẩn và thiết lập quỹ chung hỗ trợ rủi ro nếu gặp thiên tai, dịch bệnh. Để phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững trong mối quan hệ ấy: Nhà nông cam kết đúng kỹ thuật; Doanh nghiệp cam kết đầu ra; Nhà nước giám sát và hỗ trợ pháp lý cùng với việc ứng dụng số hóa để cập nhật sản lượng – chất lượng theo thời gian thực, tránh đứt gãy thông tin. Cách làm này đã được áp dụng thành công tại mô hình lúa hữu cơ ở Sóc Trăng, giúp nông dân không lo “được mùa mất giá”, doanh nghiệp ổn định nguồn hàng, còn chính quyền giảm thiểu tranh chấp.
Nhìn lại vài năm qua, nhiều mô hình liên kết ba nhà trong sản xuất hữu cơ đã tạo dấu ấn rõ rệt:
Lạng Sơn – Hợp tác xã hồi, quế hữu cơ xuất khẩu ổn định: Xã Thất Khê, hơn 300 hộ nông dân tham gia vùng hồi hữu cơ đạt chứng nhận châu Âu (EU Organic). Doanh nghiệp liên kết bao tiêu từ đầu vụ, cử kỹ thuật viên hướng dẫn nông dân tỉ mỉ từng khâu: làm cỏ bằng biện pháp sinh học, theo dõi dịch hại bằng bẫy pheromone, thu hái đúng độ chín. Nhà nước đóng vai trò “nhạc trưởng”: quy hoạch vùng nguyên liệu, hỗ trợ kinh phí chứng nhận, xây dựng đường – điện – nước vào vùng sản xuất.
Nhờ liên kết ba nhà, sản phẩm hồi – quế hữu cơ của Lạng Sơn có mặt tại nhiều thị trường khó tính như Hà Lan, Đức. Thu nhập của các hộ trồng hồi tăng gấp rưỡi so với trước khi làm hữu cơ.
Đồng Tháp – Liên kết sản xuất gạo hữu cơ trên vùng đất sen hồng: Mô hình cánh đồng hữu cơ ở Tam Nông cho thấy vai trò rất rõ của doanh nghiệp. Công ty lúa gạo đầu tư chi phí chứng nhận, lắp đặt camera giám sát đồng ruộng, hỗ trợ nông dân phân hữu cơ và giống lúa OM chuẩn. Tỉnh Đồng Tháp chủ động ban hành chính sách hỗ trợ giống, khuyến nông, thiết lập hệ thống giám sát dư lượng… Nông dân chỉ cần làm đúng quy trình. Nhờ đó, gạo hữu cơ xuất khẩu sang Nhật với giá cao hơn 30–40% và giảm chi phí đầu vào 15–20%.
Hà Giang – Rau hữu cơ từ nương đá lên bàn ăn Hà Nội: Ở các xã vùng cao Quản Bạ, mô hình liên kết sản xuất rau hữu cơ theo hướng PGS (đánh giá tham gia) đã giúp nhiều hộ dân người Mông, Dao tăng thu nhập đáng kể. Tổ chức phi chính phủ hỗ trợ kỹ thuật, doanh nghiệp Hà Nội tiêu thụ, chính quyền địa phương giúp xây dựng nhóm nông dân và cấp đất làm vườn ươm. Mỗi tuần, rau hữu cơ từ vùng đá xám lại theo xe lạnh về Thủ đô. Những câu chuyện ấy cho thấy, khi ba nhà cùng bắt tay, sản xuất hữu cơ trở thành đường hướng bền vững.
Gửi năm mới
Trong mùi trầm ngày cuối năm, ta nhận ra rằng - nông nghiệp hữu cơ không chỉ là chuyện làm ra những bó rau sạch, mà còn là khát vọng sống lành, sống tử tế với đất. Để mối liên kết Nhà nông – Doanh nghiệp – Nhà nước hiệu quả, điều quan trọng nhất là niềm tin. Tin vào sự minh bạch của quy trình, tin vào cam kết tiêu thụ, tin vào sự đồng hành của chính quyền.
Tết đến, hạt gạo sạch dẻo thơm, trái bưởi vàng ruộm đặt trên bàn thờ gia tiên là kết tinh của sự lao động đầy trách nhiệm. Khi ba “nhà” cùng chung vai, nông sản hữu cơ sẽ không chỉ là xu hướng nhất thời mà trở thành giá trị bền vững của nông nghiệp Việt Nam trong hành trình mới.
Năm mới, chúc cô bác nông dân trên từng cánh đồng, ruộng rẫy hữu cơ thêm xanh, từng gian bếp Việt thêm an lành. Và từng mối liên kết thêm bền chặt – để nông nghiệp phát triển bằng chất lượng, bằng niềm tin, bằng sự tử tế với đất đai, với cộng đồng trong một Việt Nam tươi đẹp.