![]() |
| Cây chè mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân xã Khuôn Lùng. |
Phát huy lợi thế cây chè
Phát huy lợi thế về điều kiện tự nhiên và kinh nghiệm canh tác của người dân, xã Khuôn Lùng, tỉnh Tuyên Quang lựa chọn cây chè là cây trồng chủ lực trong phát triển nông nghiệp. Không chỉ phù hợp với thổ nhưỡng địa phương, cây chè còn có thị trường tiêu thụ ổn định, tạo nền tảng để nâng cao giá trị sản xuất và thu nhập cho người dân.
Hiện toàn xã có trên 700 ha chè. Từ cuối tháng 3 đến đầu tháng 12 hằng năm, những đồi chè Khuôn Lùng bước vào mùa thu hái. Với năng suất bình quân trên 3,5 tấn/ha, giá chè búp tươi dao động từ 10.000 - 15.000 đồng/kg, cây chè mang lại thu nhập gần 40 triệu đồng/ha, trở thành nguồn thu ổn định của nhiều hộ dân.
Xác định phát triển cây trồng chủ lực là giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp và tăng thu nhập cho người dân, xã Khuôn Lùng đang tập trung phát huy lợi thế các cây trồng truyền thống, đồng thời mở rộng những mô hình sản xuất mới theo hướng liên kết, từng bước nâng cao giá trị trên diện tích canh tác.
Với lợi thế về điều kiện tự nhiên và kinh nghiệm canh tác của người dân, Khuôn Lùng xác định cây chè là cây trồng chủ lực trong phát triển kinh tế nông nghiệp. Không chỉ phù hợp với thổ nhưỡng địa phương, chè còn có thị trường tiêu thụ ổn định, tạo nền tảng nâng cao giá trị sản xuất.
Hiện toàn xã có trên 700 ha chè. Mỗi năm, từ cuối tháng 3 đến đầu tháng 12 là thời gian thu hoạch chè búp tươi. Với năng suất bình quân trên 3,5 tấn/ha và giá bán từ 10.000 - 15.000 đồng/kg, cây chè mang lại thu nhập gần 40 triệu đồng/ha, trở thành nguồn thu ổn định của nhiều hộ dân.
Không chỉ bán chè búp tươi, nhiều hộ còn đầu tư chế biến chè khô nhằm gia tăng giá trị sản phẩm. Gia đình ông Hoàng Thanh Tú, thôn Thôm Thọ, đang canh tác 2 ha chè. Ngoài thu hái chè búp tươi, gia đình còn chế biến chè khô để tiêu thụ, mang lại thu nhập trên 100 triệu đồng mỗi năm.
Ông Hoàng Thanh Tú cho biết gia đình đã gắn bó với cây chè hơn 20 năm. Chè cho thu hoạch 4 lứa mỗi năm, đầu ra ổn định, việc chế biến chè khô giúp nâng cao giá trị sản phẩm và tăng thêm thu nhập.
Đến nay, xã Khuôn Lùng đã có 2 sản phẩm chè đạt chứng nhận OCOP 3 sao, góp phần nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm chè địa phương.
![]() |
| Lãnh đạo xã Khuôn Lùng trao đổi với đơn vị liên kết về mô hình trồng lạc đỏ. |
Bên cạnh cây chè, Khuôn Lùng đang phát triển các mô hình lúa chất lượng cao (gạo lứt) và lạc đỏ theo chuỗi liên kết nhằm đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Trong vụ Xuân năm 2026, địa phương triển khai mô hình thử nghiệm 0,3 ha lúa chất lượng cao tại thôn Nà Chì. Sau một vụ sản xuất, mô hình đạt sản lượng trên 1,2 tấn thóc, cho thấy giống lúa thích nghi tốt với điều kiện địa phương. Từ kết quả này, diện tích được mở rộng sang các thôn Khâu Lầu, Thôm Thọ, Đại Thắng và Bản Vẽ trong vụ mùa.
Anh Hoàng Anh Thơ, thôn Phố, cho biết giống lúa mới có kỹ thuật chăm sóc tương tự các giống truyền thống nên người dân dễ áp dụng. Đầu ra ổn định và giá trị kinh tế cao hơn giúp bà con yên tâm mở rộng sản xuất.
Cùng với lúa chất lượng cao, mô hình trồng lạc đỏ theo chuỗi liên kết cũng được triển khai trên diện tích 10 ha với sự tham gia của 60 hộ dân. Người dân được hướng dẫn áp dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học kỹ thuật và được liên kết bao tiêu sản phẩm.
Qua đánh giá, giống lạc đỏ thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên của địa phương, có khả năng chống chịu khá với một số sâu bệnh. Mô hình đạt năng suất bình quân 2,01 tấn/ha, mang lại lợi nhuận khoảng 82,45 triệu đồng/ha. Việc liên kết tiêu thụ sản phẩm góp phần hình thành vùng sản xuất lạc đỏ hàng hóa và tạo đầu ra ổn định cho người dân.
Theo đồng chí Lò Văn Sơn, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Khuôn Lùng, địa phương xác định phát triển cây trồng chủ lực phải dựa trên lợi thế của từng vùng, từng loại cây, không phát triển theo phong trào. Thời gian tới, xã sẽ tập trung hình thành các vùng sản xuất tập trung, khắc phục tình trạng sản xuất nhỏ lẻ; tăng cường chuyển giao khoa học kỹ thuật, hỗ trợ người dân tiếp cận nguồn vốn, nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã và đẩy mạnh liên kết với doanh nghiệp từ sản xuất đến tiêu thụ. Đây được xem là giải pháp quan trọng để nâng cao giá trị nông sản, tạo đầu ra ổn định và phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững.