![]() |
Cây lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp ngắn ngày, cây lấy dầu có giá trị kinh tế cao và chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, lạc là một trong các mặt hàng nông sản có giá trị phục vụ nội tiêu, xuất khẩu và là cây đậu đỗ phù hợp với nhiều công thức luân canh cây trồng ở các vùng sinh thái khác nhau trên cả nước.
Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống lạc ở Việt Nam trong những năm gần đây đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật. Những giống lạc mới được chọn tạo có năng suất cao, thích hợp cho vùng thâm canh như: L18, L23, L26, Trạm Dầu 207... đang phát triển trong sản xuất tại các vùng trồng lạc chính. Các giống này đã có những đóng góp nhất định trong việc nâng cao năng suất lạc bình quân của cả nước từ 2,14 tấn/ha (năm 2010) lên 2,51 tấn/ha (năm 2020). Tuy vậy, các giống lạc mới nêu trên vẫn bộc lộ một số nhược điểm về chất lượng như: hàm lượng dầu trong hạt còn thấp (45 - 47%), kích cỡ hạt nhỏ không đồng đều, hoặc vỏ quả dày… Những yếu tố này hạn chế giá bán, dẫn đến hiệu quả sản xuất còn thấp, chưa đáp ứng được mong đợi của người sản xuất cũng như ngành công nghiệp chế biến ép dầu và xuất khẩu lạc.
Xuất phát từ thực tế trên, ThS. Nguyễn Xuân Thu cùng các cộng sự tại Viện cây lương thực và cây thực phẩm, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống lạc năng suất cao, chất lượng tốt cho vùng trồng lạc chính tại các tỉnh phía Bắc” nhằm chọn tạo được giống lạc có năng suất cao, hàm lượng dầu cao màu hạt đẹp, cỡ hạt to và biện pháp kỹ thuật canh tác đối với giống lạc mới cho vùng trồng lạc chính tại các tỉnh phía Bắc.
Nghiên cứu tạo vật liệu khởi đầu phục vụ công tác chọn tạo giống lạc năng suất cao, chất lượng tốt đã xác định được 35 mẫu giống có đặc điểm ưu việt. Trong đó, nhóm năng suất cao bao gồm 15 mẫu giống đạt từ 4,52 đến 5,50 tấn/ha như TQ12, TQ13, CP1, CP2, L18 và các dòng chọn lọc khác, phục vụ mục tiêu tuyển chọn trực tiếp hoặc làm vật liệu nhận gen. Đồng thời, nghiên cứu cũng xác định được 20 mẫu giống có hàm lượng dầu cao, dao động từ 50,07% đến 54,32%, điển hình là các dòng ICGV và dòng chọn lọc trong nước, có thể sử dụng linh hoạt làm bố hoặc mẹ trong các cặp lai. Ngoài ra, đề tài đã lai tạo thành công 45 tổ hợp lai mới và tạo ra 04 mẫu giống đột biến, tạo nguồn vật liệu phong phú cho công tác chọn tạo giống lâu dài.
Về kết quả chọn tạo giống, từ nguồn vật liệu kế thừa và tạo mới, đề tài đã tự công bố lưu hành 02 giống lạc L32 và L33. Đây là những giống có năng suất cao đạt từ 4,54 đến 4,82 tấn/ha, hàm lượng dầu từ 49,13% đến 50,94% và kích thước hạt lớn đạt 60 đến 65 gam/100 hạt. Bên cạnh đó, từ nguồn vật liệu tạo mới, 06 giống triển vọng đã được tuyển chọn bao gồm các dòng 1804.3.2, 1701.1.7, 1703.5.7, 1804.5.7, 1803.2.2 và 1702.4.6, ghi nhận năng suất cao từ 4,97 đến 5,46 tấn/ha cùng hàm lượng dầu ổn định trong khoảng 49,27% đến 50,32%.
Song song với việc chọn tạo giống, đề tài đã xây dựng hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác cho hai giống lạc mới L32 và L33. Quy trình này được đánh giá là dễ hiểu, dễ áp dụng vào thực tế và đã được công nhận cấp cơ sở. Đề tài cũng đã triển khai thành công 06 mô hình thử nghiệm sản xuất tại các tỉnh trọng điểm như Bắc Giang, Nghệ An, Thanh Hóa, Phú Thọ và Nam Định. Kết quả tại các mô hình cho thấy giống lạc L32 và L33 đạt năng suất từ 4,54 đến 4,82 tấn/ha, vượt giống đối chứng đại trà từ 15,8% đến 31,0%, giúp hiệu quả kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ từ 19,1% đến 44,6%.
Về mặt đào tạo và công bố khoa học, đề tài đã đăng được 02 bài báo trên các tạp chí khoa học công nghệ uy tín trong nước và đào tạo thành công 01 Thạc sĩ. Có thể khẳng định, đề tài đã hoàn thành đầy đủ các nội dung và sản phẩm theo đúng cam kết, thực hiện đúng tiến độ theo hợp đồng và đảm bảo sử dụng kinh phí đúng quy định nhà nước.
Trên cơ sở những kết quả đã đạt được, nhóm nghiên cứu đề nghị tiếp tục khai thác và sử dụng nguồn vật liệu gồm 35 mẫu giống lạc cùng 06 dòng triển vọng đã được xác định để phục vụ công tác chọn tạo giống năng suất cao, hàm lượng dầu cao trong giai đoạn tiếp theo. Đồng thời, cần đẩy mạnh việc mở rộng diện tích sản xuất giống lạc L32 và L33 tại các vùng trồng chính có điều kiện thâm canh nhằm nâng cao năng suất, sản lượng lạc cả nước và cải thiện thu nhập cho người nông dân. Cuối cùng, kính đề nghị các cấp quản lý tiếp tục đầu tư kinh phí để phát triển, hoàn thiện những dòng và giống triển vọng vốn là các sản phẩm trung gian giá trị do đề tài tạo ra nhằm tối ưu hóa hiệu quả nghiên cứu.