ki-niem-15-voaa
Chủ nhật 04/10/2026 13:11Chủ nhật 04/10/2026 13:11 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Chuyển từ trồng keo chu kỳ ngắn sang phát triển rừng gỗ lớn: Hướng đi mới cho lâm nghiệp Đà Nẵng

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Chuyển từ trồng keo chu kỳ ngắn sang phát triển rừng gỗ lớn đang mở ra hướng đi mới cho lâm nghiệp Đà Nẵng. Không chỉ nâng giá trị gỗ và cải thiện sinh kế, mô hình còn góp phần giữ đất, nguồn nước, hấp thụ các-bon và tăng khả năng chống chịu trước thiên tai.
Chuyển từ trồng keo chu kỳ ngắn sang phát triển rừng gỗ lớn: Hướng đi mới cho lâm nghiệp Đà Nẵng
Năm 2026, Đà Nẵng dành khoảng 13,5 tỷ đồng triển khai chính sách hỗ trợ phát triển rừng sản xuất gỗ lớn.

Từ rừng keo ngắn ngày đến rừng gỗ lớn

Sau sáp nhập, Đà Nẵng có khoảng 745.027 ha rừng và diện tích đã trồng cây rừng, trong đó rừng trồng khoảng 241.639 ha. Diện tích rừng trồng đã hình thành rừng đạt 188.099 ha, còn 53.540 ha đã trồng nhưng chưa đủ tiêu chí công nhận thành rừng. Đây là dư địa lớn để thành phố phát triển vùng nguyên liệu gỗ hợp pháp, có chứng chỉ, phục vụ chế biến sâu.

Tuy nhiên, phần lớn rừng trồng hiện vẫn được khai thác sau 4-5 năm, chủ yếu để sản xuất dăm gỗ. Cách làm này giúp người dân nhanh thu hồi vốn nhưng sản phẩm có đường kính nhỏ, giá trị thấp, khó đáp ứng nhu cầu chế biến đồ gỗ, nội thất và các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Việc khai thác rồi trồng lại liên tục cũng tạo áp lực lên đất, nguồn nước và hệ sinh thái, nhất là tại những khu vực địa hình dốc. Do đó, phát triển rừng gỗ lớn không chỉ đơn thuần kéo dài chu kỳ khai thác mà còn là sự thay đổi phương thức sản xuất, từ bán nguyên liệu thô sang nuôi dưỡng cây lâu hơn, nâng chất lượng gỗ và hướng đến chế biến sâu.

Theo ngành lâm nghiệp, rừng gỗ lớn được chăm sóc, quản lý phù hợp có thể mang lại giá trị kinh tế cao hơn khoảng 2-3 lần so với rừng trồng chu kỳ ngắn. Khi cây có thời gian sinh trưởng dài, đường kính và chất lượng gỗ tăng, tỷ lệ gỗ xẻ cao hơn, qua đó mở rộng khả năng sử dụng trong chế biến.

Bên cạnh giá trị kinh tế, rừng được duy trì lâu năm còn góp phần hấp thụ các-bon, bảo vệ đất, giữ nước, duy trì đa dạng sinh học và giảm tác động của thời tiết cực đoan. Vì vậy, hiệu quả của rừng gỗ lớn cần được nhìn nhận đồng thời ở các khía cạnh kinh tế, sinh kế và môi trường.

Định hướng phát triển rừng gỗ lớn được Thành ủy Đà Nẵng xác định tại Nghị quyết số 12-NQ/TU ngày 6-4-2026. Đến năm 2030, thành phố phấn đấu phát triển ít nhất 45.000 ha rừng trồng gỗ lớn, năng suất bình quân 20m³/ha/năm; trồng khoảng 4.600 ha rừng gỗ lớn bằng cây bản địa; duy trì ít nhất 30.000 ha rừng có chứng chỉ quản lý rừng bền vững. Thành phố cũng đặt mục tiêu hình thành 10-15 nhóm hộ quản lý rừng bền vững, đưa hơn 70% sản lượng gỗ khai thác vào chế biến sâu và duy trì tỷ lệ che phủ rừng 54%.

Để hỗ trợ người dân chuyển đổi, Nghị quyết số 03/2026/NQ-HĐND ngày 11/2/2026 quy định hỗ trợ tín dụng và hỗ trợ chi phí đối với trồng rừng sản xuất gỗ lớn bằng cây gỗ, cây đa mục đích thuộc diện chính sách, không gồm keo và bạch đàn, với mức hỗ trợ 55 triệu đồng/ha/chu kỳ cho giống, phân bón và nhân công trồng, chăm sóc.

Năm 2026, thành phố bố trí khoảng 13,5 tỷ đồng thực hiện chính sách; phê duyệt hỗ trợ 215 hộ gia đình, cá nhân trồng 227 ha rừng gỗ lớn. Đây là nguồn lực quan trọng giúp người dân giảm áp lực vốn trong những năm đầu, khi rừng chưa tạo ra thu nhập.

Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Trần Út, chuyển sang rừng gỗ lớn còn tạo điều kiện phát triển sinh kế dưới tán rừng. Tùy điều kiện, người dân có thể kết hợp cây dược liệu, cây ngắn ngày hoặc cây đa mục đích để có thêm nguồn thu trong thời gian chờ cây gỗ lớn trưởng thành.

Tại xã Đông Giang, ông Bnướch Ngang, người Cơ Tu ở thôn A Duông, đã chuyển gần 1ha sang trồng rừng gỗ lớn. Gia đình ông hiện có gần 3 ha rừng, trong đó có quế và lim. Sau khoảng 5 năm, cây sinh trưởng tốt, mở ra kỳ vọng về hiệu quả kinh tế cao hơn so với keo chu kỳ ngắn.

Chuyển từ trồng keo chu kỳ ngắn sang phát triển rừng gỗ lớn: Hướng đi mới cho lâm nghiệp Đà Nẵng
Ông Bnướch Ngang, thôn A Duông, xã Đông Giang đã chuyển đổi gần 1 ha diện tích rừng sang trồng cây gỗ lớn.

Tại xã Sông Kôn, ông Bríu Tư đã chuyển gần 3 ha keo sang trồng quế và dổi. Ông cho biết nhờ được tuyên truyền, phổ biến chính sách, hỗ trợ cây giống, phân bón và hướng dẫn kỹ thuật, gia đình mạnh dạn thay đổi phương thức sản xuất.

Sông Kôn hiện có hơn 1.500 ha rừng gỗ lớn và đang hướng tới hình thành vùng nguyên liệu tập trung. Tại các xã phía Tây Nam như Lãnh Ngọc, Tiên Phước, Trà Vân, Nam Trà My… người dân cũng từng bước chuyển từ keo sang cây lâu năm, cây ăn quả và các loại cây gỗ lớn như huỳnh, giổi xanh, lát hoa, sao đen.

Những mô hình này cho thấy, khi lợi ích kinh tế được nhìn thấy rõ và có chính sách đồng hành, người dân có thêm động lực để giữ cây lâu hơn, nâng cao giá trị rừng.

Chuyển từ trồng keo chu kỳ ngắn sang phát triển rừng gỗ lớn: Hướng đi mới cho lâm nghiệp Đà Nẵng
Trồng rừng gỗ lớn vừa nâng giá trị kinh tế, cải thiện sinh kế, vừa tăng khả năng bảo vệ đất, giữ nước và giảm thiểu tác động của thiên tai.

Liên kết để giữ rừng, giảm rủi ro thiên tai

Chu kỳ dài là một trong những trở ngại lớn nhất đối với rừng gỗ lớn. Người dân phải chờ nhiều năm mới thu hồi vốn, trong khi rừng có thể chịu tác động của bão, lũ, cháy, sâu bệnh và biến động thị trường. Vì vậy, phát triển rừng gỗ lớn cần một chuỗi liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, hợp tác xã và người trồng rừng để cùng chia sẻ vốn, kỹ thuật, chi phí và rủi ro.

Tại HTX Nông nghiệp Hiệp Thuận, xã Hiệp Đức, diện tích rừng có chứng chỉ FSC tăng từ 239 ha với 54 hộ lên 1.558 ha với 273 hộ tham gia liên kết. HTX hỗ trợ cây giống, kỹ thuật, tập huấn quản lý rừng bền vững, đánh giá chứng chỉ và kết nối tiêu thụ sản phẩm.

Đối với những lô rừng từ 5 tuổi trở lên, hộ dân được mượn khoản vốn tương đương 30% giá trị lô rừng, không tính lãi, để tiếp tục chăm sóc thay vì khai thác sớm. Khi đến kỳ khai thác, sản phẩm được HTX thu mua cao hơn giá thị trường khoảng 5-7%. Cơ chế này tạo thêm nguồn lực để người dân giữ rừng lâu hơn.

Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Lâm nghiệp Quảng Nam cũng liên kết với hộ dân tại 8 xã, thực hiện quản lý nhóm hộ, lập kế hoạch, giám sát, hỗ trợ kỹ thuật, duy trì chứng chỉ và kết nối thị trường. Đơn vị đã tổ chức hơn 183 lớp tập huấn, 64 cuộc hội thảo; diện tích được đánh giá, cấp chứng chỉ đạt 8.117 ha với 1.345 hộ tham gia.

Trên địa bàn thành phố, hơn 33.000 ha rừng đã được cấp chứng chỉ FSC, VFCS/PEFC, với hơn 6.500 hộ dân cùng các hợp tác xã, doanh nghiệp tham gia. Chứng chỉ giúp nâng giá trị gỗ, đáp ứng yêu cầu về tính hợp pháp, truy xuất nguồn gốc và mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường.

Không chỉ mang lại giá trị kinh tế, rừng gỗ lớn còn đóng vai trò quan trọng trong phòng, chống thiên tai. Tại khu vực miền núi, hệ rễ phát triển và thảm thực vật được duy trì lâu dài giúp giữ đất, giữ nước, hạn chế dòng chảy mặt và xói mòn. Việc giảm khai thác trắng cũng góp phần bảo vệ nguồn sinh thủy, duy trì độ che phủ và hạn chế xáo trộn đất trên địa hình dốc.

Tại HTX Nông nghiệp Hiệp Thuận, hơn 500 ha đã được hỗ trợ trồng cây bản địa, ưu tiên khu vực bờ lô và những nơi có nguy cơ sạt lở. HTX đặt mục tiêu đến năm 2030 trồng cây bản địa quanh bờ lô trên toàn bộ diện tích rừng tham gia chứng chỉ FSC.

HTX cũng xây dựng quỹ phòng ngừa rủi ro rừng trồng, với mức đóng góp tự nguyện 200.000-400.000 đồng/ha/năm. Hộ bị thiệt hại từ 30% trở lên do thiên tai được hỗ trợ theo quy chế. Năm 2023, HTX phối hợp thí điểm bảo hiểm gió bão cho 154 ha rừng của 40 hộ.

Những mô hình này cho thấy muốn người dân giữ rừng lâu hơn, chính sách hỗ trợ cần đi cùng vốn, kỹ thuật, chứng chỉ, đầu ra và cơ chế chia sẻ rủi ro. Khi sinh kế được bảo đảm, người trồng rừng sẽ có thêm điều kiện chờ cây đạt giá trị cao nhất thay vì phải khai thác sớm.

Phát triển rừng gỗ lớn vì thế không chỉ là câu chuyện nâng giá trị một hecta rừng. Đây còn là hướng chuyển đổi nền lâm nghiệp Đà Nẵng theo hướng bền vững, tạo vùng nguyên liệu chất lượng cho chế biến sâu, nâng thu nhập cho người dân miền núi, đồng thời giữ đất, nguồn nước, duy trì độ che phủ và tăng khả năng chống chịu thiên tai./.

Bài liên quan

Vùng đồi keo “lột xác” nhờ chuyển hướng trồng ổi ứng dụng công nghệ cao

Vùng đồi keo “lột xác” nhờ chuyển hướng trồng ổi ứng dụng công nghệ cao

Từ vùng đồi chỉ quen với cây keo cho hiệu quả kinh tế thấp, HTX Nông nghiệp Rừng Bảo ở xã Quế Sơn đã mạnh dạn chuyển đổi sang trồng ổi lê Đài Loan theo hướng ứng dụng công nghệ cao. Mô hình không chỉ tạo nguồn thu ổn định quanh năm còn mở ra hướng phát triển nông nghiệp xanh, từng bước hình thành chuỗi giá trị từ sản xuất đến du lịch trải nghiệm.
Đà Nẵng có một “miền xanh” mang tên Nông Sơn

Đà Nẵng có một “miền xanh” mang tên Nông Sơn

Không có những khu nghỉ dưỡng hào nhoáng hay các điểm vui chơi đông đúc, Nông Sơn (thành phố Đà Nẵng) hấp dẫn du khách bằng vẻ đẹp nguyên sơ của dòng Thu Bồn, những vườn cây trái trĩu quả, bãi cát ven sông và nhịp sống bình yên của miền quê trung du. Nơi đây đang từng bước biến những lợi thế tự nhiên thành động lực phát triển du lịch sinh thái gắn với xây dựng nông thôn mới, mở ra hướng đi bền vững cho kinh tế địa phương.
Huỳnh Sâm

Huỳnh Sâm 'chắp cánh" đưa sâm Ngọc Linh vươn xa

Từ vùng núi cao Nam Trà My, những củ sâm Ngọc Linh cùng nhiều sản vật đặc trưng của đồng bào miền núi đang từng bước tìm được chỗ đứng trên thị trường. Trong hành trình đó, các cơ sở kinh doanh địa phương như Huỳnh Sâm đã trở thành một mắt xích kết nối sản phẩm bản địa với người tiêu dùng trong và ngoài nước.
Đà Nẵng: Làng Hòa Bình Quảng Nam chung tay dựng xây mái ấm tình nghĩa

Đà Nẵng: Làng Hòa Bình Quảng Nam chung tay dựng xây mái ấm tình nghĩa

Làng Hòa Bình Quảng Nam phối hợp với chính quyền địa phương khánh thành và bàn giao nhà tình nghĩa, giúp gia đình bà Đinh Thị Mai Loan ổn định cuộc sống.
Đà Nẵng định hướng đưa Sâm Ngọc Linh trở thành cây chủ lực

Đà Nẵng định hướng đưa Sâm Ngọc Linh trở thành cây chủ lực

Đà Nẵng định hướng đưa Sâm Ngọc Linh trở thành cây chủ lực, giữ vai trò hạt nhân trong quá trình hình thành Trung tâm công nghiệp dược liệu, từng bước xây dựng chuỗi giá trị từ vùng nguyên liệu, nghiên cứu, chế biến đến thương mại và xuất khẩu.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Tía tô bén rễ bạt ngàn bên sông Con, mở hướng làm giàu cho nông dân xứ Nghệ

Tía tô bén rễ bạt ngàn bên sông Con, mở hướng làm giàu cho nông dân xứ Nghệ

Với việc mạnh dạn đưa cây tía tô vào trồng tập trung, đồng thời đầu tư hệ thống chưng cất để chiết xuất tinh dầu, Hợp tác xã (HTX) trồng và chế biến xã Nghĩa Đồng, tỉnh Nghệ An đang mở ra hướng đi mới trong sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao giá trị.
Đà Nẵng: Xã Duy Xuyên lập Chi hội trồng sen, phát triển kinh tế tuần hoàn

Đà Nẵng: Xã Duy Xuyên lập Chi hội trồng sen, phát triển kinh tế tuần hoàn

Hội Nông dân xã Duy Xuyên (Đà Nẵng) vừa ra mắt Chi hội trồng sen và tập huấn xử lý phụ phẩm nông nghiệp, mở ra hướng đi mới cho nền nông nghiệp tuần hoàn, bền vững.
Hiệu quả mô hình lúa - tôm và sức khỏe đất sau mỗi mùa vụ

Hiệu quả mô hình lúa - tôm và sức khỏe đất sau mỗi mùa vụ

Tại buổi Lễ khởi động mô hình quản lý canh tác chính xác trong hệ thống sản xuất lúa - tôm diễn ra vào ngày 29/9/2026 ở HTX Hòa Phát, xã Hồng Dân, tỉnh Cà Mau, Bình Điền tham gia không chỉ cung cấp phân bón chuyên cho Lúa Tôm mà Bình Điền mong muốn đồng hành cùng các nhà khoa học từ IRRI để quản lý dinh dưỡng và theo dõi không chỉ năng suất vụ lúa, mà cả sự thay đổi của nền đất qua những vụ lúa – tôm tiếp theo.
Quảng Trị: Kiểm tra thực địa mô hình nuôi cá mú Trân Châu trong ao đất bằng thức ăn công nghiệp

Quảng Trị: Kiểm tra thực địa mô hình nuôi cá mú Trân Châu trong ao đất bằng thức ăn công nghiệp

Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị vừa tổ chức đoàn kiểm tra thực địa mô hình nuôi cá mú Trân Châu trong ao đất bằng thức ăn công nghiệp do Công ty TNHH Đầu tư phát triển Nông nghiệp Hải Anh chủ trì thực hiện tại phường Đồng Hới.
Nuôi cá chình tuần hoàn - Hướng phát triển mới cho thủy sản nước ngọt tại Huế

Nuôi cá chình tuần hoàn - Hướng phát triển mới cho thủy sản nước ngọt tại Huế

Ứng dụng công nghệ sinh học và hệ thống tuần hoàn trong nuôi cá chình sẽ kiểm soát tốt hơn các yếu tố môi trường, góp phần tiết kiệm nguồn nước trong sản xuất..
Từ quả chanh đến chuỗi giá trị tuần hoàn

Từ quả chanh đến chuỗi giá trị tuần hoàn

Từ chỗ chủ yếu bán chanh tươi, Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Mỹ Long đang từng bước khai thác giá trị của cả quả chanh theo hướng khép kín. Quả đạt chuẩn được chọn phục vụ xuất khẩu, quả loại đưa vào chế biến, vỏ chanh chiết xuất tinh dầu, còn bã hữu cơ tiếp tục trở thành nguyên liệu sản xuất men vi sinh, phân bón và chế phẩm sinh học. Mô hình này mở ra hướng đi mới cho kinh tế hợp tác, khi giá trị nông sản được gia tăng từ toàn bộ chuỗi sản phẩm thay vì chỉ dựa vào sản lượng.
Dược liệu vùng cao Đà Nẵng tìm đường ra thị trường, mở sinh kế cho người dân

Dược liệu vùng cao Đà Nẵng tìm đường ra thị trường, mở sinh kế cho người dân

Bên cạnh Sâm Ngọc Linh, nhiều sản phẩm từ dược liệu và sản vật núi rừng đang được các cơ sở sản xuất, người dân vùng cao Đà Nẵng đưa đến gần hơn với thị trường. Từ nấm lim xanh, linh chi, quế đến sơn tra, nhàu… mỗi sản phẩm mang theo câu chuyện về vùng nguyên liệu và mở thêm hướng tạo sinh kế cho người dân.
Vùng đồi keo “lột xác” nhờ chuyển hướng trồng ổi ứng dụng công nghệ cao

Vùng đồi keo “lột xác” nhờ chuyển hướng trồng ổi ứng dụng công nghệ cao

Từ vùng đồi chỉ quen với cây keo cho hiệu quả kinh tế thấp, HTX Nông nghiệp Rừng Bảo ở xã Quế Sơn đã mạnh dạn chuyển đổi sang trồng ổi lê Đài Loan theo hướng ứng dụng công nghệ cao. Mô hình không chỉ tạo nguồn thu ổn định quanh năm còn mở ra hướng phát triển nông nghiệp xanh, từng bước hình thành chuỗi giá trị từ sản xuất đến du lịch trải nghiệm.
Tín dụng chính sách đồng hành cùng sinh kế xanh ở xã Phú Hồ

Tín dụng chính sách đồng hành cùng sinh kế xanh ở xã Phú Hồ

Khi được sử dụng đúng mục đích, nguồn vốn sẽ giúp cho hộ gia đình có thêm điều kiện chủ động phát triển sinh kế, tạo việc làm tại chỗ và nâng cao thu nhập...
Thái Nguyên: Cây hồng không hạt giúp người dân Quảng Bạch tăng thu nhập

Thái Nguyên: Cây hồng không hạt giúp người dân Quảng Bạch tăng thu nhập

Hồng không hạt đang trở thành cây trồng mang lại giá trị kinh tế cao tại xã Quảng Bạch, tỉnh Thái Nguyên, với nguồn thu bình quân 6-8 tỷ đồng mỗi năm.
PVFCCo-Phú Mỹ: Khi những giá trị truyền thống hội tụ thành chuẩn mực phát triển bền vững

PVFCCo-Phú Mỹ: Khi những giá trị truyền thống hội tụ thành chuẩn mực phát triển bền vững

Sau 22 năm kể từ khi chính thức tiếp nhận và vận hành Nhà máy đạm Phú Mỹ (21/9/2004 – 21/9/2026), hành trình của Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo-Phú Mỹ) không chỉ được ghi dấu bằng những sản phẩm phân bón, hóa chất hay kết quả sản xuất kinh doanh. Từ phân bón đến hóa chất, từ Nhà máy đến đồng ruộng, từ người lao động đến cộng đồng, từ phương thức quản trị đến chiến lược dài hạn, các giá trị truyền thống liên tục được bồi đắp qua hơn hai thập kỷ và hội tụ thành chuẩn mực phát triển bền vững.
Quảng Trị hợp tác với Tập đoàn Quế Lâm phát triển các mô hình nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn

Quảng Trị hợp tác với Tập đoàn Quế Lâm phát triển các mô hình nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn

Tỉnh Quảng Trị đang từng bước xây dựng các mô hình nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn gắn với liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm với Tập đoàn Quế Lâm phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương…
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính