![]() |
| Nghệ nhân Đào Viết Bình, Chủ tịch Hội Gốm sứ xã Kim Lan, Tp. Hà Nội. Ảnh langnghe.vn |
Với một làng nghề có lịch sử lâu đời, đổi mới công nghệ không đơn thuần là thay một chiếc lò cũ bằng thiết bị mới. Đó còn là bài toán cân bằng giữa chất lượng sản phẩm, giá thành, bí quyết nghề nghiệp, sinh kế của người thợ và trách nhiệm với môi trường sống.
Chuyển đổi lò nung - bước ngoặt của làng nghề
Nung là công đoạn quyết định chất lượng và tiêu hao nhiều năng lượng trong sản xuất gốm sứ. Trước đây, việc sử dụng lò than truyền thống tại Kim Lan từng gây ra khói bụi, xỉ than, đồng thời khiến người thợ phải làm việc trong điều kiện nặng nhọc. Chất lượng sản phẩm cũng khó đồng đều do việc kiểm soát nhiệt độ còn hạn chế.
Theo thông tin của Chương trình quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững, cơ sở sản xuất của ông Đào Việt Bình từng tham gia mô hình sản xuất sạch hơn, chuyển đổi từ lò nung than sang lò nung gas. Năm 2013, chương trình đã hỗ trợ cơ sở khảo sát, cải tiến quy trình sản xuất và đầu tư đổi mới thiết bị. Đây là bước chuyển đáng chú ý, bởi đầu tư công nghệ không chỉ nhằm tăng sản lượng mà còn hướng tới giảm tiêu hao nguyên liệu, hạn chế sản phẩm hỏng và cải thiện môi trường lao động.
Trong sản xuất gốm, một mẻ nung thành công là kết quả của nhiều yếu tố phối hợp: chất lượng đất, độ ẩm của phôi, kỹ thuật tạo hình, thành phần men, cách xếp sản phẩm trong lò và chế độ tăng, giữ, hạ nhiệt. Lò nung hiện đại giúp người thợ kiểm soát nhiệt độ tốt hơn, chủ động điều chỉnh quá trình nung và nâng cao tính ổn định giữa các mẻ sản xuất. Theo số liệu được công bố năm 2014 về mô hình sản xuất sạch hơn tại cơ sở Đào Việt Bình, tỷ lệ sản phẩm hỏng sau chuyển đổi công nghệ giảm xuống khoảng 2–5%, so với mức khoảng 20% trước đó. Kết quả này cho thấy đổi mới thiết bị có thể mang lại lợi ích đồng thời về kinh tế và môi trường.
Tuy nhiên, cần nhìn nhận rằng lò gas vẫn sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Vì vậy, gọi đây là giải pháp nung thân thiện hơn với môi trường sẽ chính xác hơn so với coi đó là công nghệ hoàn toàn không phát thải. Bước tiến tiếp theo của làng nghề là tiếp tục nâng hiệu suất sử dụng năng lượng, kiểm soát khí thải và nghiên cứu những giải pháp năng lượng sạch phù hợp với đặc thù sản xuất gốm.
Giữ tinh hoa nghề cổ trong nhịp sống hiện đại
Kim Lan không chỉ là nơi sản xuất hàng hóa mà còn lưu giữ những giá trị văn hóa gắn với nghề gốm lâu đời. Những chiếc chum, vại, bình hoa, đồ thờ và sản phẩm trang trí mang trong mình kinh nghiệm tích lũy qua nhiều thế hệ. Mỗi sản phẩm là sự kết hợp giữa nguyên liệu đất, bàn tay người thợ và bí quyết tạo hình, phối men, nung lửa.
Trong quá trình thị trường ngày càng cạnh tranh, nghệ nhân Đào Việt Bình cùng cộng đồng làm nghề đứng trước yêu cầu kép: bảo tồn kỹ thuật truyền thống, đồng thời đổi mới công nghệ để đáp ứng nhu cầu hiện đại. Đổi mới lò nung không có nghĩa là đánh mất bản sắc. Trái lại, khi nhiệt độ được kiểm soát tốt hơn, người thợ có thể chủ động hơn trong việc thử nghiệm men, hoàn thiện sản phẩm và nâng cao chất lượng. Công nghệ hỗ trợ con người, còn giá trị thẩm mỹ vẫn cần đến đôi tay khéo léo, con mắt nghề nghiệp và sự sáng tạo của nghệ nhân.
Những năm gần đây, gốm Kim Lan tiếp tục được chú ý bởi nỗ lực phục dựng các dòng men cổ và sáng tạo sản phẩm mới trên nền tảng di sản. Báo Nhân Dân từng phản ánh việc các nghệ nhân Kim Lan nghiên cứu men cổ, trong đó có men tro trấu và men ngọc gắn với lịch sử gốm Việt. Đó cũng là hướng đi có ý nghĩa đối với phát triển kinh tế xanh: nâng giá trị sản phẩm bằng tri thức, kỹ thuật và bản sắc văn hóa thay vì chỉ tăng sản lượng hoặc cạnh tranh bằng giá rẻ.
![]() |
| Sản phẩm gốm sứ Kim Lan ngày càng đa dạng |
Đưa làng nghề tiến gần hơn tới sản xuất xanh
Để mô hình lò nung thân thiện hơn với môi trường phát huy hiệu quả lâu dài, cần có cách tiếp cận tổng thể. Trước hết, các cơ sở nên kiểm tra định kỳ hệ thống đốt, đường dẫn nhiên liệu, thiết bị đo nhiệt và lớp cách nhiệt nhằm hạn chế thất thoát năng lượng. Nhiệt dư từ lò nung, nếu điều kiện kỹ thuật cho phép, có thể được tận dụng cho công đoạn sấy phôi, góp phần giảm năng lượng tiêu thụ.
Bên cạnh đó, việc quản lý nguyên liệu, thu hồi đất sét và men phù hợp, phân loại sản phẩm lỗi để xác định nguyên nhân cũng giúp giảm lãng phí. Các cơ sở cần chú trọng xử lý nước thải, bụi và chất thải rắn, không để quá trình sản xuất gây ảnh hưởng đến khu dân cư. Một yêu cầu quan trọng khác là hỗ trợ vốn cho các hộ làm nghề. Đầu tư lò nung, hệ thống điều khiển và thiết bị xử lý môi trường thường đòi hỏi nguồn lực đáng kể. Nếu thiếu vốn hoặc không có hướng dẫn kỹ thuật, nhiều cơ sở nhỏ sẽ khó tự chuyển đổi. Các chương trình tín dụng xanh, khuyến công và hỗ trợ đổi mới công nghệ vì vậy có thể trở thành đòn bẩy giúp làng nghề phát triển bền vững.
Với vai trò Chủ tịch Hội Gốm sứ Kim Lan, nghệ nhân Đào Việt Bình là một trong những người có kinh nghiệm thực tế về đổi mới công nghệ sản xuất tại địa phương. Từ câu chuyện chuyển đổi lò nung, có thể thấy rằng người đứng đầu cộng đồng nghề không chỉ cần am hiểu kỹ thuật mà còn phải quan tâm đến lợi ích chung, khả năng đầu tư của các hộ và tương lai của thế hệ thợ trẻ. Giữ lửa nghề trong thời đại mới vì thế không chỉ là giữ cho lò nung luôn đỏ lửa. Đó còn là giữ sinh kế cho người dân, bảo tồn tri thức thủ công, giảm tác động đến môi trường và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm truyền thống.
Từ những bước chuyển trong công nghệ nung, Kim Lan có cơ sở để tiếp tục xây dựng hình ảnh một làng nghề biết trân trọng quá khứ nhưng không đứng ngoài tiến trình đổi mới. Và trong hành trình ấy, kinh nghiệm của Nghệ nhân Ưu tú Đào Việt Bình gợi mở một thông điệp thiết thực: muốn nghề truyền thống trường tồn, phải biết gìn giữ tinh hoa bằng tư duy đổi mới và trách nhiệm với môi trường. Anh là công dân thủ đô tiêu biểu năm 2026 được vinh danh đúng dịp kỷ niệm 72 năm ngày giải phóng thủ đô./.