ki-niem-15-voaa
Thứ tư 28/10/2026 01:33Thứ tư 28/10/2026 01:33 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Nghiên cứu chọn giống rong câu chất lượng cao phục vụ sản xuất agar

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Các tỉnh phía Bắc hiện có khoảng 6.000 ha nuôi rong câu nhưng tiềm năng phát triển có thể lên tới 20.000 ha. Kết quả nghiên cứu của nhóm khoa học tại Viện Nghiên cứu Hải sản đã chọn lọc được hai chủng rong câu chất lượng cao, đồng thời đề xuất nhiều giải pháp nhằm phát triển bền vững ngành rong câu phục vụ sản xuất agar trong nước và xuất khẩu.
Nghiên cứu giải pháp phát triển rong câu ở các tỉnh phía Bắc - Cổng thông tin điện tử Cục Thông tin, Thống kê

Rong câu là nguyên liệu chính cho công nghiệp chiết rút agar, một loại polysaccharide được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp. Ngoài là nguyên liệu chính cho công nghiệp chiết xuất agar, rong câu còn là nguồn thực phẩm hàng ngày được sử dụng như một loại rau (rau câu), chúng được sử dụng để ăn tươi, phơi khô để dành làm nộm (gỏi), nấu chè, thạch hoặc các thực phẩm chế biến khác để ăn quanh năm. Rong câu hiện diện khắp các thủy vực nước mặn, lợ, cửa sông, đầm phá, vũng vịnh, vùng triều ven biển, các kênh rạch, ao đìa nuôi trồng thủy sản, góp phần quan trọng trong chu trình tuần hoàn vật chất trong thủy vực.

Ba loài rong câu hiện đang được nuôi trồng phổ biến tại Việt Nam gồm: Rong câu chỉ (Gracilaria tenuistipitata), rong câu thắt (Gracilaria firma) và rong câu cước (Gracilariopsis heteroclada). Hai loài rong câu chỉ và rong câu thắt được nuôi trồng phổ biến ở miền Bắc, còn loài rong câu cước được trồng phổ biến tại miền Trung và Nam Trung Bộ.

Hiện nay, nhu cầu sử dụng agar trong nước và nhu cầu xuất khẩu agar ra các thị trường lớn trên thế giới ngày càng tăng. Tuy nhiên, sản lượng và chất lượng rong câu nguyên liệu tại Việt Nam hiện nay không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất do sản lượng thấp và chất lượng agar có chiều hướng đi xuống, do đó mà nhiều doanh nghiệp sản xuất agar tại Việt Nam phải nhập khẩu rong câu nguyên liệu từ các nước Đông Nam Á như Indonesia, Philippines về để chiết xuất agar phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Từ thực tế trên, nhóm nghiên cứu của TS. Đỗ Anh Duy tại Viện nghiên cứu hải sản đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu giải pháp phát triển rong câu ở các tỉnh phía Bắc” từ năm 2021 đến năm 2022.

Đề tài hướng đến thực hiện mục tiêu chọn lọc 1-2 chủng giống rong câu chất lượng tốt; và đề xuất được định hướng và giải pháp phát triển rong câu tại các tỉnh phía Bắc.

Hiện nay, tại các tỉnh phía Bắc, rong câu được nuôi trồng và phát triển tự nhiên chủ yếu trong các ao, đầm nuôi trồng thủy sản với hai loài chính là rong câu chỉ (Gracilaria tenuistipitata) và rong câu thắt (Gracilaria firma). Hình thức nuôi phổ biến là mô hình nuôi trồng đa canh theo hướng quảng canh và quảng canh cải tiến, kết hợp với nuôi các loài thủy sản khác nhằm tận dụng diện tích mặt nước và cải thiện hiệu quả sản xuất. Tổng diện tích nuôi trồng rong câu hiện nay ước đạt khoảng 6.000 ha, trong khi diện tích có tiềm năng phát triển lên tới khoảng 20.000 ha. Sản lượng rong câu nguyên liệu thu hoạch đạt khoảng 6.350 tấn rong khô, tương đương xấp xỉ 40.000 tấn rong tươi mỗi năm. Về chất lượng nguyên liệu, rong câu hiện nay có mức độ lẫn tạp chất còn khá cao, trung bình khoảng 24,8 ± 5,2% khối lượng. Hàm lượng agar trong rong câu nguyên liệu trung bình đạt 18,7 ± 2,3% khối lượng khô; sức đông agar đạt khoảng 243,7 ± 29,6 g/cm² (ở nồng độ NaOH 6%) và nhiệt độ đông agar khoảng 34,5 ± 0,3°C.

Hoạt động chế biến và thương mại rong câu tại khu vực phía Bắc tương đối phát triển nhưng còn phân tán. Giá thu mua rong khô tại hộ dân hiện dao động khoảng 4.000–5.500 đồng/kg, tại các đại lý cấp 1 khoảng 6.000–8.000 đồng/kg và tại các doanh nghiệp chế biến agar ở Hải Phòng khoảng 8.500–10.000 đồng/kg. Hiện có khoảng 40 đại lý, cơ sở thu mua rong câu nguyên liệu tại các tỉnh phía Bắc và khoảng 10 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất agar tập trung chủ yếu tại Hải Phòng. Sản lượng agar sản xuất hàng năm đạt khoảng 1.370–1.760 tấn, trong đó khoảng 55–60% được xuất khẩu, phần còn lại phục vụ nhu cầu trong nước.

Trong công tác chọn giống, hai chủng rong câu chất lượng tốt đã được lựa chọn tại Hải Phòng là HP01 (rong câu thắt Gracilaria firma) và HP03 (rong câu chỉ Gracilaria tenuistipitata). Các chủng này đáp ứng tốt các yêu cầu về cảm quan và chất lượng, với hàm lượng agar trên 25% khối lượng khô và sức đông agar lớn hơn 250 g/cm² (ở nồng độ 1,5%, nhiệt độ 20°C).

Trên cơ sở đánh giá hiện trạng và tiềm năng của rong câu, nhóm nghiên cứu đã đề xuất năm nhóm giải pháp định hướng phát triển rong câu tại các tỉnh phía Bắc, bao gồm: hoàn thiện cơ chế, chính sách và quản lý hành chính; phát triển vùng nuôi trồng tập trung; nâng cao chất lượng giống và kỹ thuật nuôi trồng; đẩy mạnh chế biến và thương mại; đồng thời mở rộng và phát triển thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

Bài liên quan

Công nghệ sinh học nông nghiệp bước vào giai đoạn phát triển đa tính trạng

Công nghệ sinh học nông nghiệp bước vào giai đoạn phát triển đa tính trạng

Sau gần 30 năm thương mại hóa, cây trồng công nghệ sinh học tiếp tục tăng trưởng mạnh, với diện tích canh tác toàn cầu đạt mức kỷ lục 218,7 triệu ha trong năm 2024.
Thu hoạch rong biển như cắt tóc”: Bí quyết để biển vẫn xanh nguồn lợi vẫn còn

Thu hoạch rong biển như cắt tóc”: Bí quyết để biển vẫn xanh nguồn lợi vẫn còn

Những thảm rong biển rực rỡ, khỏe mạnh phủ kín đới triều bức tranh từ đại dương cho thấy sức sống mạnh mẽ của một trong những loài sinh vật phát triển nhanh nhất trên hành tinh. Nhưng để “kho báu xanh” tồn tại lâu dài, cách thu hoạch phải đúng và bền vững.
Chất kích thích sinh học và phân bón: Khác biệt ở đâu và tác động thế nào đến sự phát triển cây trồng?

Chất kích thích sinh học và phân bón: Khác biệt ở đâu và tác động thế nào đến sự phát triển cây trồng?

Trong bối cảnh canh tác tái sinh và nông nghiệp bền vững ngày càng nhận được sự quan tâm, các chất kích thích sinh học đang nổi lên như một giải pháp bổ trợ nhằm cải thiện sức khỏe đất và tối ưu năng suất. Tuy nhiên, so với phân bón – vốn đã quen thuộc và hiện hữu trong mọi mô hình sản xuất – hiệu quả và vai trò của chất kích thích sinh học vẫn là chủ đề khiến nhiều nông dân băn khoăn.

CÁC TIN BÀI KHÁC

BVTW Huế chuyển giao kỹ thuật cao, phát triển phẫu thuật tim tại Đà Nẵng

BVTW Huế chuyển giao kỹ thuật cao, phát triển phẫu thuật tim tại Đà Nẵng

BVTW Huế chuyển giao kỹ thuật tim mạch, hỗ trợ Bệnh viện C Đà Nẵng phẫu thuật bắc cầu động mạch vành, góp phần phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng...
Ứng dụng máy bay không người lái - Hiện đại hóa nông nghiệp tại Huế

Ứng dụng máy bay không người lái - Hiện đại hóa nông nghiệp tại Huế

Cơ giới hóa nông nghiệp tại phường Thanh Thủy được thúc đẩy qua đầu tư máy bay không người lái, góp phần nâng cao hiệu quả lao động, ứng dụng công nghệ cao...
Hải Phòng cụ thể hóa tầm nhìn bằng giải pháp công nghệ đột phá

Hải Phòng cụ thể hóa tầm nhìn bằng giải pháp công nghệ đột phá

Chương trình hợp tác này nằm trong khuôn khổ Diễn đàn Chuyển đổi số thành phố Hải Phòng năm 2026 (diễn ra ngày 8/10/2026) với chủ đề "Dữ liệu - AI - Tự động hóa: Động lực chiến lược cho phát triển kinh tế số và đô thị thông minh". Tại diễn đàn, Sở Khoa học và Công nghệ Hải Phòng cùng Công ty TNHH Starlink Services Việt Nam đã ký kết hợp tác, trực tiếp giao nhận các thiết bị đầu cuối cùng gói dịch vụ Internet vệ tinh hiện đại.
Phát triển công nghệ, nâng tầm giá trị ngành nấm Việt Nam

Phát triển công nghệ, nâng tầm giá trị ngành nấm Việt Nam

Ngành nấm Việt Nam đẩy mạnh chọn tạo giống chất lượng cao, ứng dụng công nghệ sinh học, chế biến sâu, hướng tới sản xuất công nghiệp, xanh và bền vững.
Làm thế nào để dữ liệu thực sự trở thành động lực phát triển?

Làm thế nào để dữ liệu thực sự trở thành động lực phát triển?

Trong nền kinh tế số, dữ liệu ngày càng được xem là một nguồn lực quan trọng, bên cạnh vốn, lao động, tài nguyên và công nghệ. Tuy nhiên, có dữ liệu không đồng nghĩa với việc tạo ra giá trị. Nhiều cơ quan, doanh nghiệp và địa phương đang sở hữu lượng thông tin lớn nhưng chưa khai thác hiệu quả, dữ liệu còn phân tán, thiếu liên thông và chưa thực sự tham gia vào quá trình ra quyết định. Vấn đề đặt ra không chỉ là thu thập dữ liệu, mà là làm thế nào để biến dữ liệu thành tri thức, tri thức thành hành động và hành động thành giá trị phát triển.
Lào Cai: Thúc đẩy ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, mở rộng mô hình sản xuất chè hữu cơ tại xã Hưng Khánh

Lào Cai: Thúc đẩy ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, mở rộng mô hình sản xuất chè hữu cơ tại xã Hưng Khánh

Nhằm đánh giá tiến độ và tháo gỡ khó khăn trong phát triển vùng nguyên liệu, đoàn công tác do đồng chí Giàng Quốc Hưng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai làm trưởng đoàn đã trực tiếp kiểm tra mô hình sản xuất chè hữu cơ tại xã Hưng Khánh, chỉ đạo đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và mở rộng quy mô liên kết chuỗi giá trị bền vững.
Từ nguồn năng lượng bổ trợ đến động lực của chuyển đổi xanh

Từ nguồn năng lượng bổ trợ đến động lực của chuyển đổi xanh

Việt Nam đang bước vào một giai đoạn mới của phát triển điện mặt trời. Sau thời kỳ tăng trưởng nóng, trọng tâm chính sách hiện nay chuyển dần sang điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu, kết hợp pin lưu trữ và sử dụng điện tại chỗ. Những chính sách mới trong năm 2026 đang mở thêm dư địa cho thị trường, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về lưới điện, lưu trữ, quy hoạch và hiệu quả đầu tư.
Hội Nông dân Huế thúc đẩy ứng dụng khoa học kỹ thuật trong trồng thanh trà

Hội Nông dân Huế thúc đẩy ứng dụng khoa học kỹ thuật trong trồng thanh trà

Hội ND Huế thúc đẩy ứng dụng KHKT, phát triển hệ thống tưới nước cho cây thanh trà, tiết kiệm nguồn lực, nâng cao năng suất, chất lượng và nông nghiệp bền vững
Đưa khoa học nông nghiệp từ phòng thí nghiệm ra đồng ruộng

Đưa khoa học nông nghiệp từ phòng thí nghiệm ra đồng ruộng

Từ kết quả nghiên cứu đến ứng dụng trong sản xuất vẫn còn khoảng cách đáng kể. Thu hẹp khoảng cách ấy không chỉ đòi hỏi công nghệ tiên tiến, mà còn cần cơ chế phù hợp, sự tham gia của doanh nghiệp và người nông dân, cùng những giải pháp bảo đảm hiệu quả kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Người giữ lửa gốm Kim Lan bằng công nghệ nung thân thiện môi trường

Người giữ lửa gốm Kim Lan bằng công nghệ nung thân thiện môi trường

Giữa nhịp chuyển mình của làng nghề truyền thống trước yêu cầu phát triển xanh, câu chuyện bảo tồn nghề gốm không chỉ là giữ lại những dáng bình, chiếc chum hay sắc men cổ, mà còn là tìm cách sản xuất hài hòa với môi trường. Tại làng gốm Kim Lan, xã ven sông Hồng thuộc Hà Nội, Nghệ nhân Ưu tú Đào Việt Bình, Chủ tịch Hội Gốm sứ Kim Lan, là nhân vật gắn với nỗ lực gìn giữ nghề truyền thống và hướng tới phương thức nung gốm thân thiện hơn với môi trường.
BVTW Huế: Chuẩn hóa an toàn tiêm truyền vì người bệnh hướng tới chuẩn Quốc tế JCI

BVTW Huế: Chuẩn hóa an toàn tiêm truyền vì người bệnh hướng tới chuẩn Quốc tế JCI

Bệnh viện Trung ương Huế đẩy mạnh an toàn tiêm truyền, chuẩn hóa liệu pháp truyền tĩnh mạch, nâng chất lượng chăm sóc, điều trị và hướng tới chuẩn JCI...
Lâm Đồng đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp

Lâm Đồng đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp

Ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đang ngày càng được chú trọng trong sản xuất nông nghiệp tại Lâm Đồng, từ khâu giống, canh tác, tưới nước đến quản lý chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Đây được xem là một trong những hướng quan trọng nhằm nâng cao giá trị sản phẩm, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường và hướng đến nền nông nghiệp xanh, bền vững.
XEM THÊM
phu-my
dam-ca-mau-15-nam-vi-hoa
cuoc-thi-viet
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính