ki-niem-15-voaa
Thứ hai 05/10/2026 17:56Thứ hai 05/10/2026 17:56 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Bảo vệ hệ sinh thái biển và đất ngập nước trước sức ép phát triển và biến đổi khí hậu

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Hệ sinh thái biển, ven biển và đất ngập nước đang chịu sức ép từ ô nhiễm, khai thác tài nguyên, phát triển kinh tế và biến đổi khí hậu.
Hệ sinh thái: Nền tảng phát triển thủy sản bền vững – Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Cấu trúc của hệ sinh thái

Hệ sinh thái là một thể thống nhất gồm quần xã sinh vật và môi trường vô sinh, liên kết với nhau thông qua dòng năng lượng, vòng tuần hoàn vật chất và các quan hệ sinh thái. Xét theo chức năng, hệ sinh thái gồm sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ, sinh vật phân giải và môi trường vô sinh.

Sinh vật sản xuất: Sinh vật sản xuất là các sinh vật tự dưỡng, có khả năng tạo chất hữu cơ từ chất vô cơ nhờ năng lượng ánh sáng hoặc năng lượng hóa học. Trong hệ sinh thái thủy sinh, nhóm này gồm thực vật phù du, tảo bám, rong biển, cỏ biển, thực vật thủy sinh bậc cao và một số vi sinh vật hóa tự dưỡng.

Sinh vật tiêu thụ: Sinh vật tiêu thụ là các sinh vật dị dưỡng, sử dụng sinh vật khác hoặc chất hữu cơ có sẵn làm thức ăn. Nhóm này gồm sinh vật tiêu thụ bậc 1 như động vật phù du và cá ăn thực vật; bậc 2 như cá nhỏ, tôm và một số động vật không xương sống; bậc cao như cá lớn, chim ăn cá và các loài săn mồi khác.

Sinh vật phân giải: Sinh vật phân giải, chủ yếu là vi khuẩn và nấm, phân hủy xác sinh vật, chất thải và vật chất hữu cơ, giải phóng chất dinh dưỡng vô cơ để sinh vật sản xuất tiếp tục sử dụng. Chúng hoạt động trong nước, bùn đáy, lá mục và xác sinh vật, trong cả điều kiện có ôxy và thiếu ôxy.

Cần phân biệt sinh vật phân giải với động vật ăn mùn bã. Giun, một số loài cua, tôm và hải sâm chỉ ăn, nghiền nhỏ vật chất hữu cơ để hỗ trợ quá trình phân hủy nên vẫn thuộc nhóm sinh vật tiêu thụ. Sinh vật phân giải tác động lên vật chất từ mọi bậc dinh dưỡng, góp phần khép kín vòng tuần hoàn vật chất.

Môi trường vô sinh: Môi trường vô sinh gồm nước, đất và trầm tích đáy, không khí, ánh sáng, nhiệt độ, độ mặn, sóng, dòng chảy và thủy triều. Nhiệt độ, độ pH, độ trong, ôxy hòa tan và chất dinh dưỡng quyết định sự sinh trưởng, phân bố của sinh vật.

Đất và trầm tích đáy là nơi cây bám rễ, sinh vật đáy cư trú, chất dinh dưỡng tích tụ và quá trình phân giải diễn ra. Sóng, dòng chảy và thủy triều vận chuyển vật chất, điều hòa nhiệt độ và kết nối các khu vực sinh thái.

Sự tương tác giữa các thành phần của hệ sinh thái

Hệ sinh thái: Nền tảng phát triển thủy sản bền vững – Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Các thành phần của hệ sinh thái thủy sinh liên kết chặt chẽ và tác động qua lại. Sinh vật sản xuất quang hợp, tạo chất hữu cơ và ôxy, đồng thời cung cấp thức ăn, giữ bùn, hạn chế xói lở và ổn định nền đáy. Sinh vật tiêu thụ truyền năng lượng qua các bậc dinh dưỡng, kiểm soát quần thể và có thể cạnh tranh hoặc hỗ trợ lẫn nhau.

Rừng ngập mặn và thảm cỏ biển còn là nơi trú ẩn, kiếm ăn và sinh sản của nhiều loài thủy sinh. Vi khuẩn và nấm phân giải xác sinh vật, lá rụng và chất thải, trả lại chất dinh dưỡng cho môi trường. Nhờ đó, vật chất được tuần hoàn, còn năng lượng truyền một chiều qua chuỗi thức ăn và dần tiêu tán dưới dạng nhiệt.

Môi trường và sinh vật tác động lẫn nhau: ánh sáng, nhiệt độ, độ mặn, ôxy hòa tan và dòng chảy chi phối đời sống sinh vật; ngược lại, sinh vật làm thay đổi lượng ôxy, phù sa và trầm tích.

Khi các mối quan hệ này được duy trì trong khả năng tự điều chỉnh, hệ sinh thái giữ được cân bằng. Nếu vượt quá sức chịu đựng, hệ sinh thái có thể suy thoái. Chẳng hạn, nước thải giàu dinh dưỡng khiến tảo phát triển quá mức; khi tảo chết và bị phân hủy, ôxy trong nước giảm mạnh, làm cá và sinh vật đáy suy yếu hoặc chết. Hiện tượng này gọi là phú dưỡng.

Hệ sinh thái có phải là một hệ thống sống?

Hệ sinh thái là một hệ thống sống vì nó có tổ chức, thường xuyên trao đổi với môi trường và có khả năng tự điều chỉnh, thích nghi, phục hồi trong những giới hạn nhất định.

Đặc điểm này thể hiện ở ba phương diện: vật chất được tuần hoàn qua quá trình sản xuất, tiêu thụ và phân giải; năng lượng mặt trời được chuyển thành năng lượng hóa học rồi truyền qua các bậc dinh dưỡng; thông tin và cơ chế phản hồi hình thành từ hành vi và sự tương tác giữa sinh vật với môi trường.

Khả năng cảm nhận và đáp ứng trước hết thuộc về từng sinh vật. Cá có thể rời vùng thiếu ôxy, thực vật hướng về ánh sáng, động vật thay đổi nơi sống khi nhiệt độ hoặc độ mặn biến động. Khi diễn ra ở nhiều cá thể và loài, các phản ứng này làm thay đổi quần thể, lưới thức ăn và toàn bộ hệ sinh thái.

Hệ sinh thái không có cơ quan trung tâm tiếp nhận và xử lý thông tin, cũng không có ý thức hay khả năng suy nghĩ. Phản ứng của hệ thống hình thành từ mạng lưới tương tác và các cơ chế phản hồi giữa các thành phần. Nhờ đó, hệ sinh thái có thể tự điều chỉnh và phục hồi trong một giới hạn nhất định.

Khung pháp lý, thách thức và giải pháp bảo vệ, phát triển bền vững

Việt Nam có hơn 3.260 km bờ biển, mạng lưới sông ngòi dày đặc và trên 1 triệu ha đất ngập nước. Vì vậy, bảo vệ hệ sinh thái biển, ven biển và đất ngập nước có ý nghĩa quan trọng đối với đa dạng sinh học, sinh kế và chủ quyền quốc gia.

Khung pháp lý nền tảng

Luật Đa dạng sinh học năm 2008 quy định bảo tồn và sử dụng bền vững hệ sinh thái tự nhiên; nghiêm cấm lấn chiếm, phá hoại hệ sinh thái và nuôi, trồng loài ngoại lai xâm hại trong khu bảo tồn.

Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 yêu cầu gắn quy hoạch, khai thác tài nguyên với bảo vệ môi trường, cảnh quan và dịch vụ hệ sinh thái biển, hải đảo và ven bờ.

Luật Thủy sản năm 2017 quy định việc quản lý nguồn lợi và hệ sinh thái thủy sinh tại rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và khu bảo tồn đất ngập nước; đồng thời kiểm soát các hoạt động gây ảnh hưởng hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng đất ngập nước.

Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quyết định số 149/QĐ-TTg năm 2022) yêu cầu lồng ghép bảo tồn và sử dụng bền vững đất ngập nước vào quản lý khu bảo tồn, duy trì chế độ thủy văn tự nhiên và chất lượng nước.

Các nghị định chuyên ngành cũng quy định hạn chế sử dụng hóa chất gây suy thoái đất ngập nước và nghiêm cấm hành vi phá hủy hệ sinh thái, gây ô nhiễm trong khu bảo tồn.

Theo hướng dẫn thực hiện Công ước Ramsar tại Việt Nam, đất ngập nước quan trọng gồm khu vực có quy mô từ 50 ha ở vùng ven biển, ven đảo hoặc từ 5 ha ở vùng nội địa, đồng thời có hệ sinh thái tự nhiên, kiểu đất ngập nước đặc thù hoặc là nơi sinh sống thường xuyên của các loài đặc hữu, nguy cấp, quý, hiếm.

Hạn chế, thách thức trong kiểm soát và quản lý hệ sinh thái

Sự thiếu đồng bộ trong chính sách và quản lý nhà nước

Quản lý còn mang tính đơn ngành, phân tán: Hệ sinh thái đất ngập nước ven biển chịu sự quản lý của nhiều ngành như tài nguyên và môi trường, nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp, xây dựng và du lịch. Tuy nhiên, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan còn thiếu chặt chẽ, dẫn đến chồng chéo về thẩm quyền hoặc bỏ trống trách nhiệm quản lý.

Hệ thống pháp luật chưa đồng bộ: Các quy định về bảo tồn đa dạng sinh học, quản lý đất đai, tài nguyên nước, rừng ngập mặn, nuôi trồng thủy sản và bảo vệ môi trường chưa được liên kết thành một cơ chế quản lý thống nhất. Một số quy định còn thiếu cụ thể, chưa xác định rõ ranh giới và chế độ quản lý đối với từng loại đất ngập nước.

Quy hoạch còn thiếu tính tích hợp: Quy hoạch sử dụng đất, phát triển đô thị, giao thông, du lịch, thủy sản và bảo tồn thiên nhiên đôi khi được lập riêng biệt, chưa xem xét đầy đủ mối liên hệ giữa các hoạt động kinh tế với chức năng sinh thái của vùng đất ngập nước.

Công tác kiểm tra, giám sát còn hạn chế: Việc theo dõi biến động diện tích, chất lượng môi trường và đa dạng sinh học chưa được thực hiện thường xuyên. Cơ sở dữ liệu còn phân tán, thiếu cập nhật và chưa được chia sẻ hiệu quả giữa các cơ quan.

Nguồn lực quản lý chưa đáp ứng yêu cầu: Kinh phí, nhân lực chuyên môn, thiết bị quan trắc và năng lực thực thi pháp luật tại địa phương còn hạn chế. Một số hành vi lấn chiếm, san lấp, xả thải hoặc khai thác trái phép chưa được phát hiện và xử lý kịp thời.

Áp lực từ phát triển kinh tế

Chuyển đổi mục đích sử dụng đất: Nhiều diện tích rừng ngập mặn, bãi triều, đầm phá và cửa sông bị chuyển đổi để xây dựng khu đô thị, khu công nghiệp, cảng biển, cơ sở du lịch, hạ tầng giao thông hoặc vùng nuôi trồng thủy sản. Quá trình này làm thu hẹp và chia cắt sinh cảnh tự nhiên.

Ưu tiên lợi ích kinh tế ngắn hạn: Giá trị sinh thái của đất ngập nước như phòng chống bão, chống xói lở, điều hòa nước, hấp thụ carbon và duy trì nguồn lợi thủy sản chưa được tính đầy đủ trong các quyết định đầu tư. Vì vậy, lợi ích trước mắt từ khai thác và chuyển đổi đất thường được ưu tiên hơn lợi ích bảo tồn lâu dài.

Ô nhiễm môi trường ngày càng lan rộng: Nước thải sinh hoạt, công nghiệp, du lịch và nuôi trồng thủy sản chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt yêu cầu được thải vào sông, cửa biển và đầm phá. Chất thải rắn, rác thải nhựa, hóa chất nông nghiệp và dầu mỡ từ hoạt động hàng hải làm suy giảm chất lượng nước và trầm tích.

Khai thác tài nguyên quá mức: Đánh bắt thủy sản tận diệt, khai thác con non, sử dụng ngư cụ bị cấm, chặt phá rừng ngập mặn và khai thác cát thiếu kiểm soát làm suy giảm nguồn lợi sinh vật, phá vỡ chuỗi thức ăn và khả năng phục hồi tự nhiên của hệ sinh thái.

Sinh kế của cộng đồng còn phụ thuộc lớn vào tài nguyên: Người dân ven biển thường phụ thuộc trực tiếp vào đánh bắt, nuôi trồng thủy sản và khai thác tài nguyên tự nhiên. Khi thiếu sinh kế thay thế, việc áp dụng các biện pháp hạn chế khai thác và bảo tồn thường gặp khó khăn.

Tác động của biến đổi khí hậu

Nước biển dâng và xâm nhập mặn: Nước biển dâng làm ngập các vùng đất thấp, thay đổi độ mặn và chế độ thủy văn, gây suy thoái rừng ngập mặn, bãi triều và các vùng sinh sản của nhiều loài thủy sinh.

Gia tăng thiên tai cực đoan: Bão mạnh, mưa lớn, triều cường, lũ lụt, hạn hán và sóng nhiệt xảy ra với cường độ và tần suất khó dự báo hơn. Những hiện tượng này gây xói lở bờ biển, phá hủy sinh cảnh và làm giảm khả năng tự phục hồi của hệ sinh thái.

Không gian thích nghi tự nhiên bị thu hẹp: Khi nước biển dâng, rừng ngập mặn và các sinh cảnh ven biển cần dịch chuyển vào phía đất liền. Tuy nhiên, đê biển, đường giao thông, khu dân cư và công trình xây dựng đã cản trở quá trình dịch chuyển này, tạo ra hiện tượng “dồn ép ven biển”.

Thiếu các biện pháp thích ứng linh hoạt: Công tác quản lý vẫn chủ yếu dựa vào các công trình cứng như đê, kè và tường chắn sóng, trong khi chưa chú trọng đúng mức các giải pháp dựa vào tự nhiên như phục hồi rừng ngập mặn, bảo vệ bãi triều và tạo hành lang sinh thái.

Dự báo và kế hoạch ứng phó còn hạn chế: Việc lồng ghép các kịch bản biến đổi khí hậu vào quy hoạch và quản lý đất ngập nước chưa đầy đủ. Các kế hoạch thường thiếu cơ chế điều chỉnh linh hoạt khi điều kiện khí hậu, thủy văn và đường bờ biển thay đổi.

Các hạn chế có quan hệ và tác động lẫn nhau. Vì vậy, cần áp dụng quản lý tổng hợp, dựa trên hệ sinh thái, gắn bảo tồn với sinh kế bền vững và thích ứng khí hậu.

Giải pháp bảo vệ và phát triển bền vững

Hoàn thiện pháp luật và quy hoạch: Rà soát quy định chồng chéo, xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, địa phương và đẩy nhanh thành lập các khu bảo tồn biển, khu bảo tồn đất ngập nước.

Tăng cường thực thi và giám sát: Kiểm soát hoạt động khai thác, nuôi trồng, xây dựng và xả thải; xử lý nghiêm hành vi khai thác trái phép, phá hủy hệ sinh thái hoặc gây ô nhiễm môi trường nước.

Bảo đảm nguồn lực và phục hồi hệ sinh thái: Bố trí ngân sách ổn định, huy động doanh nghiệp, tổ chức xã hội và nguồn lực quốc tế; ưu tiên phục hồi rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển, cửa sông và vùng đất ngập nước quan trọng.

Phát huy vai trò cộng đồng: Khuyến khích người dân tham gia quản lý, giám sát và khai thác bền vững; phát triển mô hình đồng quản lý gắn với sinh kế xanh, du lịch sinh thái và nuôi trồng thủy sản thân thiện với môi trường.

Đẩy mạnh điều tra và ứng dụng khoa học – công nghệ: Xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất, tăng cường quan trắc và ứng dụng công nghệ số, ảnh viễn thám để theo dõi biến động hệ sinh thái, cảnh báo ô nhiễm và hỗ trợ ra quyết định.

Vấn đề cốt lõi để bảo tồn và khai thác bền vững hệ sinh thái vùng ngập nước biển Việt Nam là đồng bộ hóa quy hoạch không gian biển, thiết lập các khu bảo tồn, phục hồi sinh cảnh và phát triển kinh tế sinh thái có sự tham gia của cộng đồng.

Bài liên quan

Malaysia tăng tốc giành thị phần sầu riêng tại Trung Quốc, thách thức vị thế của Thái Lan

Malaysia tăng tốc giành thị phần sầu riêng tại Trung Quốc, thách thức vị thế của Thái Lan

Năm 2025, Trung Quốc nhập khẩu 1,87 triệu tấn sầu riêng tươi trị giá 7,5 tỷ USD (khoảng 197.000 tỷ đồng). Gia nhập thị trường muộn, Malaysia đang đặt cược vào quả chín tự nhiên, chế biến sâu và du lịch trải nghiệm để cạnh tranh với Thái Lan.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 1: Từ bàn ăn nhìn ra cả hệ thống

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 1: Từ bàn ăn nhìn ra cả hệ thống

Mỗi ngày, một bữa cơm gia đình bắt đầu từ những điều rất quen thuộc: Hạt gạo, bó rau, con cá, quả trứng hay miếng thịt. Nhưng để những thực phẩm ấy xuất hiện trên bàn ăn là cả một hành trình dài, với sự tham gia của người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học, cơ quan quản lý, hệ thống phân phối và chính người tiêu dùng. Phía sau mỗi món ăn còn là đất, nước, lao động, công nghệ, thị trường, chính sách và môi trường. Hiểu được hành trình ấy chính là bước đầu tiên để mỗi người nhận ra mình đang ở đâu và có thể làm gì để cùng xây dựng một hệ thống lương thực - thực phẩm minh bạch, trách nhiệm và bền vững.
Phát động chiến dịch “Checck - in biển Thanh Hóa năm 2026”

Phát động chiến dịch “Checck - in biển Thanh Hóa năm 2026”

Chiến dịch “Check-in biển Thanh Hóa 2026” kêu gọi người dân, du khách và các nhà sáng tạo nội dung chia sẻ những trải nghiệm chân thực, góp phần quảng bá biển xứ Thanh và thúc đẩy du lịch biển bốn mùa.
ĐH Huế khẳng định vai trò trong hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia

ĐH Huế khẳng định vai trò trong hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia

Đóng góp rõ nét trong mạng lưới đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp quốc gia, ĐH Huế tiếp tục hướng tới xây dựng môi trường sáng tạo, kết nối tri thức với thực tiễn
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 1: Từ bàn ăn nhìn ra cả hệ thống

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 1: Từ bàn ăn nhìn ra cả hệ thống

Mỗi ngày, một bữa cơm gia đình bắt đầu từ những điều rất quen thuộc: Hạt gạo, bó rau, con cá, quả trứng hay miếng thịt. Nhưng để những thực phẩm ấy xuất hiện trên bàn ăn là cả một hành trình dài, với sự tham gia của người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học, cơ quan quản lý, hệ thống phân phối và chính người tiêu dùng. Phía sau mỗi món ăn còn là đất, nước, lao động, công nghệ, thị trường, chính sách và môi trường. Hiểu được hành trình ấy chính là bước đầu tiên để mỗi người nhận ra mình đang ở đâu và có thể làm gì để cùng xây dựng một hệ thống lương thực - thực phẩm minh bạch, trách nhiệm và bền vững.
Tp. Huế: Chủ động phòng ngừa cháy, nổ, tai nạn từ môi trường học đường

Tp. Huế: Chủ động phòng ngừa cháy, nổ, tai nạn từ môi trường học đường

Khi kỹ năng phòng ngừa, thoát nạn và cứu hộ được hình thành sớm, các em sẽ trở thành những nhân tố tích cực lan tỏa ý thức an toàn đến gia đình và cộng đồng...
CATP Huế nâng hiệu quả quản lý địa bàn, gần dân, sát dân, vì Nhân dân phục vụ

CATP Huế nâng hiệu quả quản lý địa bàn, gần dân, sát dân, vì Nhân dân phục vụ

CATP Huế tiếp tục xây dựng hình ảnh lực lượng Công an gần dân, sát dân, vì nhân dân phục vụ, xây dựng môi trường an toàn để phát triển kinh tế - xã hội bền vững
Tp. Huế: Phường Thuận An xây dựng chuỗi giá trị thủy sản gắn với kinh tế biển xanh

Tp. Huế: Phường Thuận An xây dựng chuỗi giá trị thủy sản gắn với kinh tế biển xanh

Sự ra đời của HTX Chế biến Thủy sản Thuận An mở thêm một hướng liên kết để nguồn nguyên liệu thủy sản được khai thác, chế biến và tiêu thụ hiệu quả hơn...
Phát triển nông nghiệp sinh thái: Từ mô hình riêng lẻ đến chuyển đổi cả hệ thống

Phát triển nông nghiệp sinh thái: Từ mô hình riêng lẻ đến chuyển đổi cả hệ thống

Chuyển đổi sang nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn cần được thực hiện đồng bộ từ tổ chức sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ đến liên kết thị trường và chia sẻ lợi ích. Tại hội thảo khoa học tổ chức ngày 30/9 ở Ninh Bình, các nhà quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và hợp tác xã nhấn mạnh yêu cầu để người nông dân được hưởng lợi xứng đáng từ những giá trị sinh thái mà họ tạo ra.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Lan tỏa thông điệp bảo vệ rừng từ những trải nghiệm thực tế

Lan tỏa thông điệp bảo vệ rừng từ những trải nghiệm thực tế

Những trải nghiệm tại Bảo tàng Thiên nhiên Duyên hải miền Trung sẽ gieo những “hạt giống xanh” trong thế hệ trẻ, hướng đến lối sống thân thiện với môi trường...
Một xã ở Nghệ An tiêu hủy 6,5 tấn lợn do nhiễm dịch tả châu Phi

Một xã ở Nghệ An tiêu hủy 6,5 tấn lợn do nhiễm dịch tả châu Phi

Những ngày qua, tình hình dịch tả lợn châu Phi trên địa bàn xã Anh Sơn, tỉnh Nghệ An có nhiều diễn biến phức tạp. Đến thời điểm hiện tại, địa phương này đã phát hiện, tiêu hủy hơn 6,5 tấn để đảm bảo vệ sinh môi trường, phòng tránh lây lan.
Đề xuất không rà soát lại hồ sơ môi trường đối với từng nhà máy tại Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân

Đề xuất không rà soát lại hồ sơ môi trường đối với từng nhà máy tại Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân

Trước tình trạng ô nhiễm môi trường kéo dài quanh Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng đề xuất không rà soát, đánh giá lại hồ sơ đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của từng nhà máy, mà sử dụng kết quả kiểm kê nguồn thải và mô hình hóa lan truyền ô nhiễm do Bộ Nông nghiệp và Môi trường triển khai làm cơ sở cho các bước xử lý tiếp theo.
Công khai danh sách cơ sở thuộc diện nộp phí bảo vệ môi trường đối với khí thải

Công khai danh sách cơ sở thuộc diện nộp phí bảo vệ môi trường đối với khí thải

Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng vừa thông báo công khai danh sách các cơ sở xả khí thải thuộc diện nộp phí bảo vệ môi trường đối với khí thải trên địa bàn tỉnh.
Chăn nuôi đúng quy định để bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng

Chăn nuôi đúng quy định để bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng

Thực hiện đúng quy định pháp luật trong chăn nuôi sẽ giúp hạn chế nguy cơ bị xử phạt, góp phần bảo vệ môi trường, bảo đảm an toàn thực phẩm, sức khỏe cộng đồng.
Lâm Đồng thu gom hơn 3,15 triệu tấn phụ phẩm trồng trọt

Lâm Đồng thu gom hơn 3,15 triệu tấn phụ phẩm trồng trọt

Hơn 3,15 triệu tấn phụ phẩm trồng trọt đã được thu gom, xử lý trong giai đoạn 2024-2026 tại Lâm Đồng, chiếm khoảng 65,6% lượng phát sinh. Tuy nhiên, với bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng, tỷ lệ được thu gom và xử lý đúng quy định mới đạt 38,6%, cho thấy việc kiểm soát chất thải từ sản xuất nông nghiệp vẫn còn nhiều dư địa để cải thiện.
Chủ tịch Nghệ An kiểm tra công tác quản lý, khai thác khoáng sản trên sông Lam

Chủ tịch Nghệ An kiểm tra công tác quản lý, khai thác khoáng sản trên sông Lam

Ngày 24/9, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An Võ Trọng Hải đã đi kiểm tra việc thực hiện công tác quản lý hoạt động khoáng sản trên địa bàn theo Kết luận số 165-KL/TU ngày 30/7/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy.
Một hành động đẹp vì động vật hoang dã và đa dạng sinh học

Một hành động đẹp vì động vật hoang dã và đa dạng sinh học

Ngày 25/9, UBND phường Thuận An, Tp. Huế phối hợp với các lực lượng chức năng tiếp nhận một cá thể động vật hoang dã do người dân tự nguyện giao nộp. Đây là hành động thiết thực góp phần bảo vệ động vật hoang dã, gìn giữ đa dạng sinh học và lan tỏa trách nhiệm của cộng đồng đối với thiên nhiên.
Hà Tĩnh khẩn trương kiểm soát 2 ổ dịch tả lợn châu Phi

Hà Tĩnh khẩn trương kiểm soát 2 ổ dịch tả lợn châu Phi

Hai ổ dịch tả lợn châu Phi vừa được xác định tại xã Mai Phụ (Hà Tĩnh) đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về khoanh vùng, xử lý ổ dịch và tăng cường các biện pháp bảo vệ đàn vật nuôi trên địa bàn.
Quảng Ninh triển khai tổng vệ sinh, khử trùng, tiêu độc môi trường và tiêm phòng đàn vật nuôi đợt 2/2026

Quảng Ninh triển khai tổng vệ sinh, khử trùng, tiêu độc môi trường và tiêm phòng đàn vật nuôi đợt 2/2026

Phó Chủ tịch UBND thành phố Quảng Ninh yêu cầu UBND các xã, phường, đặc khu tổ chức thực hiện “Tháng tổng vệ sinh, khử trùng, tiêu độc môi trường đợt 2 năm 2026 từ 15/9-15/10/2026” và khẩn trương tiêm phòng vacxin cho đàn vật nuôi đợt 2/2026.
Hãy để mùa chim di cư là mùa của những cánh chim tự do

Hãy để mùa chim di cư là mùa của những cánh chim tự do

Chim hoang dã là một bộ phận quan trọng của tự nhiên, góp phần duy trì cân bằng sinh thái và tạo nên giá trị cảnh quan của các vùng đồng ruộng, ao hồ, đầm phá..
Tăng cường bảo đảm an toàn thực phẩm sau bão số 4 và mưa lũ

Tăng cường bảo đảm an toàn thực phẩm sau bão số 4 và mưa lũ

Cục An toàn thực phẩm yêu cầu các địa phương bị ảnh hưởng trực tiếp bởi bão số 4 và mưa lũ tăng cường các biện pháp bảo đảm an toàn thực phẩm, kiểm soát nguồn nước, thực phẩm và chủ động phòng ngừa ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính