![]() |
| Bộ tiêu chí OCOP mới hướng tới nâng cao chất lượng sản phẩm, phát huy sức mạnh cộng đồng, câu chuyện sản phẩm và trách nhiệm duy trì tiêu chuẩn sau công nhận. |
Ngày 22/5/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 26/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí và quy trình đánh giá, phân hạng sản phẩm mỗi xã một sản phẩm (OCOP). Quyết định này quy định toàn diện các nội dung liên quan đến đánh giá, phân hạng, công nhận, nâng hạng, công nhận lại sản phẩm OCOP; đồng thời bổ sung cơ chế thu hồi giấy chứng nhận và kiểm tra, giám sát sản phẩm sau khi được công nhận.
Trong bối cảnh Chương trình OCOP đã trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế nông thôn, việc ban hành bộ tiêu chí mới cho thấy định hướng chuyển từ phát triển theo số lượng sang nâng cao chất lượng, chuẩn hóa quy trình, củng cố niềm tin thị trường và tạo nền tảng để các sản phẩm đặc trưng của địa phương tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
![]() |
| Sản phẩm OCOP được định vị là sản phẩm đặc sản, đặc sắc, mang nguồn gốc và đặc trưng địa phương, gắn với văn hóa truyền thống, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và trách nhiệm xã hội. |
OCOP không chỉ là sản phẩm, mà là giá trị địa phương
Theo Quyết định số 26/2026/QĐ-TTg, sản phẩm OCOP được xác định là sản phẩm đặc sản, đặc sắc, có nguồn gốc và mang đặc trưng của địa phương, gắn với giá trị văn hóa truyền thống, bảo đảm an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và trách nhiệm xã hội, hướng tới phát triển xanh, bền vững.
Điều đó cho thấy OCOP không đơn thuần là hoạt động xếp hạng một sản phẩm hàng hóa. Mỗi sản phẩm tham gia chương trình phải thể hiện được câu chuyện của vùng đất, tri thức bản địa, năng lực tổ chức sản xuất và khả năng phát triển thị trường. Đây cũng là cơ sở để hạn chế tình trạng sản phẩm chỉ chú trọng bao bì, nhãn mác hoặc hồ sơ hình thức, nhưng chưa thật sự có chiều sâu về chất lượng, bản sắc và khả năng cạnh tranh.
Quyết định mới quy định 6 nhóm sản phẩm được tham gia đánh giá, phân hạng OCOP, gồm: thực phẩm; đồ uống; dược liệu và sản phẩm từ dược liệu; hàng thủ công mỹ nghệ; sinh vật cảnh; dịch vụ du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái và điểm du lịch. Chủ thể tham gia bao gồm hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp nhỏ và vừa, trang trại, hộ sản xuất, hộ gia đình có đăng ký kinh doanh. Riêng nhóm dịch vụ du lịch có thêm hội, hiệp hội, trung tâm điều hành hoặc tổ chức tương đương.
Việc mở rộng và phân loại rõ nhóm sản phẩm giúp quá trình đánh giá sát thực tế hơn, phù hợp với đặc thù từng ngành hàng. Đặc biệt, sự xuất hiện của nhóm sinh vật cảnh và dịch vụ du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái tiếp tục khẳng định OCOP là chương trình phát triển kinh tế nông thôn tổng hợp, không giới hạn trong lĩnh vực nông sản thực phẩm.
![]() |
| Bộ tiêu chí OCOP được xây dựng trên các nhóm tiêu chí về sản phẩm và sức mạnh cộng đồng, khả năng tiếp thị, câu chuyện sản phẩm và chất lượng sản phẩm. |
Ba trụ cột đánh giá và ngưỡng phân hạng mới
Bộ tiêu chí OCOP mới được thiết kế theo thang điểm 100, gồm 3 phần chính. Phần A đánh giá sản phẩm và sức mạnh cộng đồng, tối đa 40 điểm, tập trung vào tổ chức sản xuất, phát triển sản phẩm và sự tham gia của cộng đồng. Phần B đánh giá khả năng tiếp thị, tối đa 25 điểm, gồm hoạt động tiếp thị và câu chuyện sản phẩm. Phần C đánh giá chất lượng sản phẩm, tối đa 35 điểm, bao gồm chỉ tiêu cảm quan, dinh dưỡng, tính độc đáo, công bố chất lượng, bảo đảm chất lượng, hướng dẫn sử dụng và cơ hội thị trường toàn cầu.
Cơ cấu điểm này cho thấy tư duy đánh giá OCOP đã dịch chuyển theo hướng toàn diện hơn. Một sản phẩm muốn được công nhận ở thứ hạng cao không chỉ cần bảo đảm chất lượng, mà còn phải chứng minh được năng lực sản xuất ổn định, gắn kết với cộng đồng, có câu chuyện thương hiệu rõ ràng và khả năng tiếp cận thị trường.
Trong đó, tiêu chí về sức mạnh cộng đồng có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế nông thôn. OCOP không chỉ tạo ra sản phẩm tốt, mà còn phải góp phần tổ chức lại sản xuất, sử dụng lao động địa phương, phát huy nguyên liệu bản địa, nâng cao thu nhập và lan tỏa giá trị văn hóa của từng vùng.
Bên cạnh đó, tiêu chí về khả năng tiếp thị và câu chuyện sản phẩm tiếp tục được đề cao. Điều này phù hợp với thực tế nhiều sản phẩm địa phương có chất lượng tốt nhưng còn hạn chế trong nhận diện thương hiệu, thiết kế bao bì, truyền thông, thương mại điện tử và mở rộng kênh phân phối. Khi được đặt vào hệ thống tiêu chí chính thức, các chủ thể OCOP sẽ phải đầu tư bài bản hơn cho chiến lược thị trường, thay vì chỉ tập trung vào khâu sản xuất.
| Theo quy định mới, sản phẩm OCOP được phân thành 5 hạng trên thang điểm 100. Sản phẩm đạt từ 90 đến 100 điểm được xếp hạng 5 sao cấp quốc gia; từ 70 đến dưới 90 điểm được xếp hạng 4 sao cấp tỉnh; từ 50 đến dưới 70 điểm được xếp hạng 3 sao cấp tỉnh; từ 30 đến dưới 50 điểm được xếp hạng 2 sao; dưới 30 điểm được xếp hạng 1 sao. |
Điểm đáng chú ý là sản phẩm 1 sao và 2 sao không ban hành quyết định công nhận và không cấp giấy chứng nhận. UBND cấp tỉnh tổ chức đánh giá, quyết định công nhận và cấp giấy chứng nhận cho sản phẩm đạt 3 sao, 4 sao. Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tổ chức đánh giá, quyết định công nhận và cấp giấy chứng nhận cho sản phẩm đạt 5 sao.
Quy định này góp phần làm rõ giá trị của giấy chứng nhận OCOP. Việc chỉ cấp chứng nhận cho sản phẩm từ 3 sao trở lên tạo ra ngưỡng chất lượng tối thiểu, giúp nâng cao uy tín của hệ thống OCOP trên thị trường. Đồng thời, các sản phẩm ở mức 1 sao, 2 sao vẫn có thể được xem là nhóm đang trong quá trình hình thành, cần tiếp tục hoàn thiện để nâng cấp trong các kỳ đánh giá tiếp theo.
Giấy chứng nhận sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên có giá trị trong thời hạn 36 tháng kể từ ngày ban hành. Khi hết thời hạn, chủ thể phải thực hiện quy trình đánh giá lại để được tiếp tục công nhận. Đây là điểm quan trọng nhằm tránh tình trạng sản phẩm sau khi được công nhận nhưng không duy trì chất lượng, thay đổi quy mô sản xuất, nguyên liệu, bao bì hoặc điều kiện pháp lý mà không được rà soát kịp thời.
![]() |
| Quy trình đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP được phân cấp rõ, trong đó Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì đánh giá, công nhận sản phẩm đạt 5 sao cấp quốc gia. |
Quy trình đánh giá, nâng hạng và công nhận lại sản phẩm OCOP
Quyết định số 26/2026/QĐ-TTg quy định quy trình đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP theo hướng phân cấp rõ hơn. Chủ thể OCOP chuẩn bị hồ sơ và nộp 1 bộ hồ sơ giấy, 1 bộ hồ sơ điện tử cho UBND cấp xã. Trường hợp thực hiện qua phần mềm, hồ sơ trên hệ thống có giá trị pháp lý như hồ sơ giấy.
Trong thời hạn 15 ngày làm việc, UBND cấp xã có trách nhiệm kiểm tra các yếu tố như nguồn gốc nguyên liệu, sử dụng lao động địa phương, ý tưởng sản phẩm, bản sắc văn hóa và tri thức bản địa. Sau đó, cấp xã ban hành báo cáo đánh giá và gửi hồ sơ đến UBND cấp tỉnh.
Việc đặt cấp xã vào khâu đánh giá ban đầu là điểm đáng chú ý. Đây là cấp gần nhất với chủ thể sản xuất, hiểu rõ nguồn gốc sản phẩm, vùng nguyên liệu, lao động địa phương và bối cảnh văn hóa của sản phẩm. Nếu thực hiện nghiêm túc, khâu này sẽ giúp sàng lọc hồ sơ, hạn chế tình trạng sản phẩm thiếu căn cứ địa phương hoặc chưa đáp ứng yêu cầu nhưng vẫn được đưa lên cấp trên.
Ở cấp tỉnh, cơ quan tham mưu quản lý OCOP tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ, tổng hợp báo cáo Chủ tịch UBND cấp tỉnh. Chủ tịch UBND cấp tỉnh thành lập Hội đồng và Tổ tư vấn Hội đồng cấp tỉnh. Hội đồng có sự tham gia của lãnh đạo UBND tỉnh và đại diện các sở, ngành liên quan như Sở Nông nghiệp và Môi trường; Sở Công Thương; Sở Y tế; Sở Khoa học và Công nghệ; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Sau khi Tổ tư vấn rà soát, có thể yêu cầu bổ sung hồ sơ hoặc khảo sát thực tế, Hội đồng cấp tỉnh tổ chức đánh giá, phân hạng và báo cáo kết quả. Cơ quan tham mưu tổng hợp, trình Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định công nhận sản phẩm đạt 3 sao, 4 sao và công bố kết quả. Với sản phẩm có tiềm năng đạt 5 sao, tức đạt từ 90 điểm trở lên, UBND cấp tỉnh gửi hồ sơ đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường đánh giá cấp quốc gia.
Về thời gian tổ chức đánh giá, UBND cấp tỉnh tổ chức ít nhất 2 đợt mỗi năm. Đợt 1 hoàn thành trước ngày 30/6, hồ sơ đề nghị nộp trước ngày 30/4; đợt 2 hoàn thành trước ngày 30/12, hồ sơ đề nghị nộp trước ngày 30/10. Cấp tỉnh có thể tổ chức thêm các đợt đánh giá tùy điều kiện thực tế.
Đối với cấp quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức đánh giá sản phẩm 5 sao ít nhất 2 đợt mỗi năm. Đợt 1 hoàn thành trước ngày 30/9 đối với hồ sơ do tỉnh đề nghị trước ngày 30/7; đợt 2 hoàn thành trước ngày 30/3 đối với hồ sơ do tỉnh đề nghị trước ngày 30/1.
Quy định về lịch đánh giá cụ thể giúp các địa phương và chủ thể OCOP chủ động hơn trong kế hoạch hoàn thiện hồ sơ, nâng cấp sản phẩm, chuẩn bị mẫu, kiểm nghiệm chất lượng, hoàn thiện bao bì, nhãn mác và các giấy tờ pháp lý. Đồng thời, việc tổ chức đánh giá định kỳ cũng tạo sức ép tích cực để sản phẩm OCOP không dừng lại ở danh hiệu, mà liên tục cải tiến để thích ứng với yêu cầu thị trường.
Hồ sơ đánh giá lần đầu gồm phiếu đăng ký và báo cáo tự đánh giá. Đối với sản phẩm đề nghị nâng hạng, chủ thể phải bổ sung tài liệu minh chứng những thay đổi so với sản phẩm đã được công nhận. Đối với đánh giá lại, hồ sơ phải cập nhật kết quả sau thời gian công nhận về nguyên liệu, công nghệ, bao bì, nhãn mác, công bố chất lượng, kiểm nghiệm, thị trường, sản lượng, doanh thu và các giấy tờ pháp lý có thời hạn.
Những yêu cầu này cho thấy việc đánh giá OCOP không còn dừng ở bộ hồ sơ ban đầu, mà trở thành quá trình quản trị chất lượng liên tục. Chủ thể muốn giữ sao hoặc nâng sao phải chứng minh được sự tiến bộ, tính ổn định và năng lực đáp ứng các yêu cầu mới.
![]() |
| Công tác hậu kiểm sau công nhận nhằm bảo đảm sản phẩm OCOP tiếp tục duy trì tiêu chí chất lượng, sử dụng nhãn hiệu đúng quy định và giữ uy tín với người tiêu dùng. |
Hậu kiểm, thu hồi chứng nhận và trách nhiệm thực thi
Một điểm đáng chú ý trong Quyết định số 26/2026/QĐ-TTg là quy định cụ thể về thu hồi giấy chứng nhận kết quả phân hạng sản phẩm OCOP. Các trường hợp bị thu hồi gồm: cung cấp thông tin, tài liệu không trung thực hoặc giả mạo hồ sơ; sản phẩm không còn đáp ứng tiêu chí OCOP; vi phạm quy định pháp luật về chất lượng, an toàn thực phẩm, môi trường, sở hữu trí tuệ; sử dụng nhãn hiệu OCOP không đúng quy định gây nhầm lẫn; chủ thể không còn hoạt động sản xuất sản phẩm; hoặc các trường hợp khác theo đề nghị của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Thẩm quyền thu hồi được phân định rõ. Chủ tịch UBND cấp tỉnh thu hồi giấy chứng nhận đối với sản phẩm 3 sao, 4 sao. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường thu hồi giấy chứng nhận đối với sản phẩm 5 sao. Thời gian thực hiện thu hồi là 15 ngày kể từ ngày có kết luận vi phạm hoặc xác nhận không còn sản xuất từ UBND cấp xã.
Cơ chế thu hồi là yêu cầu cần thiết để bảo vệ uy tín của Chương trình OCOP. Trên thực tế, giấy chứng nhận OCOP có tác động lớn tới niềm tin của người tiêu dùng, nhà phân phối và các kênh xúc tiến thương mại. Nếu sản phẩm sau công nhận không duy trì chất lượng hoặc sử dụng danh hiệu sai quy định, không chỉ ảnh hưởng tới người tiêu dùng mà còn làm suy giảm uy tín chung của các sản phẩm OCOP khác.
Quyết định mới cũng quy định rõ công tác kiểm tra, giám sát sản phẩm OCOP sau khi được công nhận. Hoạt động này nhằm bảo đảm sản phẩm tiếp tục duy trì các yêu cầu, đồng thời kịp thời phát hiện và xử lý trường hợp không còn đáp ứng tiêu chí hoặc vi phạm quy định.
Nguyên tắc kiểm tra, giám sát là hậu kiểm, kết hợp định kỳ và đột xuất, bảo đảm khách quan, minh bạch, không gây cản trở hoạt động sản xuất kinh doanh. Nội dung kiểm tra tập trung vào việc duy trì tiêu chí của sản phẩm theo hồ sơ, sử dụng nhãn hiệu, thông tin và quảng bá sản phẩm. UBND cấp tỉnh chủ trì kiểm tra sản phẩm trên địa bàn, trong khi Bộ Nông nghiệp và Môi trường kiểm tra sản phẩm 5 sao hoặc sản phẩm 3 sao, 4 sao khi cần thiết.
Với cách tiếp cận này, OCOP không còn dừng ở khâu đánh giá và công nhận ban đầu, mà được quản lý xuyên suốt trong cả quá trình phát triển sản phẩm. Từ khi đăng ký tham gia, được phân hạng, nâng hạng, đánh giá lại cho đến hậu kiểm và xử lý vi phạm, sản phẩm OCOP đều phải duy trì các tiêu chí đã cam kết. Đây là điều kiện quan trọng để chương trình phát triển thực chất, tránh tình trạng chạy theo thành tích hoặc công nhận xong nhưng thiếu giám sát.
Việc ban hành Bộ tiêu chí và quy trình đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP mới đặt ra yêu cầu cao hơn đối với cả địa phương và chủ thể sản xuất. Với địa phương, trách nhiệm không chỉ là tổ chức hội đồng đánh giá, mà còn phải hướng dẫn chủ thể hoàn thiện hồ sơ, nâng cao chất lượng sản phẩm, kiểm tra giám sát sau công nhận và chịu trách nhiệm toàn diện về công tác đánh giá, phân hạng trên địa bàn.
Với chủ thể OCOP, yêu cầu mới đòi hỏi sự chuyên nghiệp hơn trong quản trị sản xuất, kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc, phát triển bao bì, nhãn mác, xây dựng câu chuyện sản phẩm, mở rộng thị trường và tuân thủ quy định pháp luật. Những sản phẩm có lợi thế về nguyên liệu địa phương, quy trình sản xuất ổn định, câu chuyện thương hiệu rõ ràng, khả năng thương mại tốt sẽ có nhiều cơ hội nâng hạng.
Đặc biệt, tiêu chí về cơ hội thị trường toàn cầu trong phần đánh giá chất lượng cho thấy mục tiêu của OCOP không chỉ là phục vụ thị trường nội địa. Những sản phẩm đạt chuẩn, có thương hiệu và năng lực đáp ứng yêu cầu chất lượng cao có thể từng bước tham gia thị trường xuất khẩu, qua đó nâng giá trị nông sản, sản phẩm làng nghề và dịch vụ đặc trưng của địa phương.
Có thể thấy, Quyết định số 26/2026/QĐ-TTg là bước hoàn thiện quan trọng về thể chế đối với Chương trình OCOP trong giai đoạn mới. Khi tiêu chí được chuẩn hóa, quy trình được phân cấp rõ, hậu kiểm được tăng cường và cơ chế thu hồi được quy định cụ thể, Chương trình OCOP có thêm cơ sở để phát triển theo chiều sâu, lấy chất lượng, bản sắc, cộng đồng và thị trường làm trọng tâm.
Để quy định mới đi vào thực chất, điều quan trọng là các địa phương cần tránh tư duy chạy theo số lượng sản phẩm được công nhận. Thay vào đó, OCOP cần được xem là quá trình hỗ trợ chủ thể nâng cấp sản phẩm, tổ chức lại sản xuất, phát triển thương hiệu địa phương và xây dựng niềm tin lâu dài với người tiêu dùng.
Để thực hiện thành công mục tiêu tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu năm 2026 tăng 12% trở lên, Tp.Hà Nội cần tập trung triển ... |
Cúc chi – loài hoa dược liệu quý từng xuất hiện trong cung đình xưa – nay đang nở rộ trên cánh đồng xã Vĩnh ... |
UBND xã Quảng Sơn, tỉnh Lâm Đồng vừa ban hành Thông báo số 46/UBND liên quan đến việc sản phẩm OCOP của Hợp tác xã ... |
Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) tiếp tục ghi nhận bước phát triển mạnh mẽ khi đến giữa tháng 4/2026, cả nước đã ... |
Việc kết hợp giữa du lịch nông thôn, sản phẩm OCOP và khai thác giá trị văn hóa bản địa đang trở thành hướng đi ... |