![]() |
| Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phải đáp ứng đồng bộ các điều kiện về quy hoạch, hạ tầng, hạ tầng số, nghiên cứu, nhân lực và thương mại hóa sản phẩm. |
Theo Nghị định số 263/2026/NĐ-CP của Chính phủ, việc thành lập khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phải đáp ứng các điều kiện được quy định tại khoản 3 Điều 24 Luật Công nghệ cao. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được hình thành theo đúng định hướng quy hoạch, có hạ tầng đồng bộ, có năng lực nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, thương mại hóa sản phẩm và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao.
Cụ thể, khu vực dự kiến thành lập khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phải nằm trong phạm vi không gian phát triển hoặc định hướng, phương hướng phát triển đã được xác định trong quy hoạch vùng hoặc quy hoạch tỉnh đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đồng thời, khu vực này phải được phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh.
Bên cạnh yêu cầu về quy hoạch và sử dụng đất, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phải bảo đảm khả năng kết nối đồng bộ với hệ thống hạ tầng bên ngoài. Các điều kiện về hạ tầng gồm hạ tầng giao thông, hệ thống điện, nguồn nước, hệ thống cấp nước và xử lý nước thải, hạ tầng viễn thông cùng các hạ tầng kỹ thuật thiết yếu khác.
Nghị định cũng yêu cầu khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phải có phương án thỏa thuận hợp tác, liên kết với các tổ chức khoa học và công nghệ, trường đại học trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường; đồng thời có phương án hợp tác sản xuất, thương mại hóa sản phẩm khoa học. Điều kiện tự nhiên của khu vực đề xuất thành lập cũng phải phù hợp với mục tiêu phát triển của khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Một trong những yêu cầu quan trọng khác là khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phải có diện tích phù hợp để bố trí các hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định tại Điều 4 của Nghị định. Diện tích này phải đáp ứng yêu cầu phát triển dài hạn, tổ chức không gian hợp lý, không manh mún, không phân tán. Cùng với đó, khu phải có hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, cơ chế quản lý, duy tu, bảo trì rõ ràng; bảo đảm các điều kiện về quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật.
Đối với yêu cầu về chuyển đổi số và năng lực nghiên cứu, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phải đồng bộ hạ tầng số, bảo đảm an ninh thông tin, có khả năng kết nối và chia sẻ dữ liệu với tổ chức, cá nhân có liên quan. Ngoài ra, khu phải có phòng thí nghiệm, khu nghiên cứu, khu thử nghiệm, khu sản xuất thử nghiệm ứng dụng công nghệ cao, cơ sở trình diễn, cơ sở ươm tạo và chuyển giao công nghệ. Nghị định cũng đặt ra yêu cầu về cơ sở lưu trú cho chuyên gia, nhà khoa học và người lao động làm việc trong khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Về nguồn lực vận hành, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phải có phương án sử dụng nguồn lực đầy đủ, khả thi, bảo đảm duy trì liên tục các hoạt động thực hiện nhiệm vụ và định hướng phát triển. Khu phải có kế hoạch phát triển năng lực nghiên cứu; phương án thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao, nhân lực quản lý đổi mới sáng tạo; kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhân lực; phương án hợp tác với tổ chức khoa học và công nghệ, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, hợp tác xã.
Đồng thời, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phải có phương án phát triển thị trường cho sản phẩm công nghệ cao; bảo hộ và khai thác quyền sở hữu trí tuệ. Một yêu cầu khác được đặt ra là phải có phương án khả thi để phát triển và thu hút nguồn nhân lực, trong đó bao gồm chính sách đãi ngộ, hỗ trợ thỏa đáng về thu nhập, tiền lương, tiền thưởng, đào tạo nâng cao năng lực, nhà ở, điều kiện sinh hoạt, cũng như điều kiện triển khai và hợp tác hoạt động khoa học công nghệ.
![]() |
| Các dự án đầu tư trong khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được hưởng nhiều chính sách ưu đãi, hỗ trợ về nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, sở hữu trí tuệ và thương mại hóa sản phẩm. |
Chính sách ưu đãi đối với dự án đầu tư trong khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
Nghị định số 263/2026/NĐ-CP quy định, căn cứ điều kiện thực tế của địa phương và thẩm quyền của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, địa phương ban hành chính sách và bố trí nguồn lực hỗ trợ nhằm thu hút dự án đầu tư, thu hút nhân lực chất lượng cao, phát triển hoạt động nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa công nghệ, sản phẩm công nghệ trong khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Cơ quan quản lý khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có trách nhiệm hướng dẫn, tiếp nhận, giải quyết hoặc phối hợp giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư, doanh nghiệp, đất đai, xây dựng, môi trường, lao động, thuế, hải quan và các thủ tục khác theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông. Cơ quan này cũng có trách nhiệm hỗ trợ nhà đầu tư trong quá trình triển khai dự án.
Các dự án đầu tư trong khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, gồm dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật và dự án đầu tư thực hiện hoạt động công nghệ cao, công nghệ chiến lược theo quy định tại Điều 4 của Nghị định, được ưu tiên tiếp cận và tham gia các chương trình, quỹ, chính sách hỗ trợ của Nhà nước.
Các chính sách hỗ trợ này bao gồm đào tạo nhân lực, nghiên cứu và phát triển, đổi mới công nghệ, chuyển giao công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại cùng các chương trình hỗ trợ hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Đối với dự án thực hiện nhiệm vụ trong khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo quy định tại Điều 4 của Nghị định, dự án được ưu tiên xem xét đặt hàng, tài trợ từ các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về công nghệ cao của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác ở Trung ương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Việc hỗ trợ được thực hiện theo phương thức giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc tuyển chọn theo quy định pháp luật.
Cụ thể, dự án có thể được tài trợ tối đa 100% kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo hình thức liên kết do Nhà nước tài trợ, đặt hàng theo hình thức hợp tác công tư.
Nghị định cũng cho phép áp dụng cơ chế khoán chi theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; đồng thời chấp nhận rủi ro theo các quy định tại Điều 35, Điều 36, Điều 37, Điều 38 và Điều 39 của Nghị định số 267/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ. Đây là Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cùng một số quy định về thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Trong trường hợp mua công nghệ hoặc bí quyết công nghệ để giải mã, phục vụ chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia phát triển công nghệ chiến lược, dự án được hỗ trợ tối đa 100% kinh phí.
Ngoài ra, dự án còn được xem xét tài trợ, hỗ trợ kinh phí hoặc hỗ trợ cho vay từ Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ và đổi mới sáng tạo của cơ quan cấp bộ, cơ quan khác ở Trung ương, cũng như Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Về ưu đãi thuế, các dự án đầu tư trong khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế theo quy định của pháp luật về thuế.
Về ưu đãi, hỗ trợ nhân lực, Nhà nước hỗ trợ tối đa 100% kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cho các cá nhân thực hiện nghiên cứu tại khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nhằm nâng cao năng lực. Việc hỗ trợ được thực hiện thông qua các chương trình của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia và các quỹ phát triển khoa học và công nghệ khác theo quy định của pháp luật. Mức hỗ trợ cụ thể thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và các quy định pháp luật có liên quan.
Đối với hoạt động sở hữu trí tuệ và thương mại hóa, dự án được hỗ trợ đến 100% chi phí đăng ký, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong nước và tối đa 50% chi phí đăng ký, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở nước ngoài đối với công nghệ cao. Đồng thời, dự án được hỗ trợ định giá, khai thác, chuyển giao và thương mại hóa tài sản trí tuệ hình thành từ hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ cao.
Đối với dự án ứng dụng, thương mại hóa công nghệ cao, mức hỗ trợ lãi suất vay được xác định bằng 70% lãi suất cho vay theo hợp đồng đã ký kết giữa tổ chức tín dụng và khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nhưng không quá 8% mỗi năm. Nguồn hỗ trợ được thực hiện từ Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia, quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của bộ, ngành, địa phương, quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia và địa phương. Khoản hỗ trợ này phục vụ việc mua sắm trang thiết bị, máy móc, dây chuyền sản xuất cho dự án ứng dụng, thương mại hóa công nghệ cao.
Nghị định cũng quy định Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị nghiên cứu; đầu tư nâng cấp, hiện đại hóa phòng thí nghiệm dùng chung, cơ sở nghiên cứu công nghệ cao công lập. Tổ chức, cá nhân được sử dụng phòng thí nghiệm dùng chung, cơ sở nghiên cứu, hạ tầng nghiên cứu công nghệ cao do Nhà nước đầu tư thông qua phiếu hỗ trợ tài chính theo quy định tại Điều 23 Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ.
Các trường hợp không được hưởng ưu đãi
Nghị định số 263/2026/NĐ-CP cũng quy định rõ những trường hợp dự án đầu tư không được hưởng ưu đãi đầu tư. Cụ thể, dự án không đáp ứng hoặc không duy trì việc đáp ứng các tiêu chí quy định sẽ không được hưởng ưu đãi.
Bên cạnh đó, dự án đầu tư bị chấm dứt hoạt động toàn bộ hoặc một phần cũng thuộc trường hợp không được hưởng ưu đãi. Trường hợp dự án có vi phạm nhưng không khắc phục được trong thời hạn một năm hoặc trong thời hạn ghi tại quyết định ngừng hoạt động cũng không được hưởng các chính sách ưu đãi theo quy định.
Các quy định nêu trên có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Tây Ninh đặt mục tiêu phát triển các vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nhằm đóng góp vào việc nâng tỷ lệ giá ... |
Huyện Bình Lục (Hà Nam) đang gặt hái thành công với mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại Khu NNƯDCNC Đồng Du ... |
Tỉnh Cao Bằng đã xây dựng và triển khai thực hiện Đề án Nông nghiệp thông minh giai đoạn 2020 - 2025, tầm nhìn năm ... |
Trên cơ sở báo cáo đề xuất của Sở Nông nghiệp và Môi trường tại Công văn số 7341/SoNNMT-CCPTNT ngày 28/10/205; ngày 20 tháng 11 ... |
Phát triển Hợp tác xã (HTX) nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm nhằm nâng cao ... |