![]() |
| Vùng sản xuất lúa tập trung muốn phát huy hiệu quả cần gắn quy trình canh tác thống nhất với liên kết tiêu thụ, kiểm soát chất lượng và bảo đảm lợi ích của người trồng lúa |
Tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung, đồng bộ và gắn với thị trường đang là một trong những yêu cầu quan trọng để nâng cao giá trị ngành hàng lúa gạo. Tại xã Cát Tiên, đề xuất của Hợp tác xã Sản xuất Nông nghiệp và Dịch vụ tổng hợp Tư Nghĩa về khảo sát, phát triển vùng sản xuất lúa tập trung tại thôn 4 và thôn 5 mở ra hướng đi nhằm liên kết các hộ nông dân, thống nhất quy trình canh tác và tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm.
UBND xã Cát Tiên ghi nhận, cơ bản thống nhất với định hướng này. Theo kế hoạch của hợp tác xã, vùng sản xuất dự kiến triển khai giai đoạn đầu khoảng 50 ha, sau đó từng bước mở rộng lên khoảng 100 ha. Mô hình hướng đến cung ứng giống, vật tư, hướng dẫn kỹ thuật và tổ chức thu mua sản phẩm, qua đó tạo sự đồng bộ trong sản xuất thay vì để các hộ canh tác riêng lẻ.
Tuy nhiên, qua xem xét kế hoạch, UBND xã cho rằng phương án hiện tại vẫn cần được hoàn thiện nhiều nội dung trước khi triển khai diện rộng. Đáng chú ý, hợp tác xã chưa có thành viên trực tiếp sản xuất tại khu vực dự kiến hình thành vùng nguyên liệu; việc huy động nông dân hiện mới dừng ở định hướng tuyên truyền, vận động tham gia.
Điều này đặt ra yêu cầu phải bắt đầu từ thực tế đồng ruộng: có bao nhiêu hộ sẵn sàng tham gia, diện tích từng hộ là bao nhiêu, điều kiện sản xuất ra sao và người dân mong muốn nhận được những quyền lợi gì khi liên kết với hợp tác xã. Đây không chỉ là bước thống kê ban đầu mà còn là cơ sở để xác định quy mô phù hợp, xây dựng phương án sản xuất và đánh giá khả năng hình thành vùng nguyên liệu ổn định.
Theo yêu cầu của UBND xã, việc tham gia hợp tác xã phải dựa trên nguyên tắc tự nguyện, đồng thời làm rõ quyền lợi khi sử dụng dịch vụ và trách nhiệm thực hiện các cam kết chung. Khi người nông dân trực tiếp bỏ vốn, công sức và chịu rủi ro mùa vụ, tính minh bạch trong quan hệ liên kết sẽ ảnh hưởng đáng kể đến khả năng duy trì mô hình qua nhiều vụ sản xuất.
Một vấn đề khác được đặt ra là đầu ra cho sản phẩm. Trong kế hoạch, hợp tác xã dự kiến tổ chức cung ứng đầu vào và thu mua lúa, nhưng UBND xã yêu cầu làm rõ toàn bộ chuỗi liên kết, từ hộ sản xuất, hợp tác xã đến khâu sơ chế, bảo quản, chế biến, doanh nghiệp phân phối và thị trường tiêu thụ. Vai trò, trách nhiệm và lợi ích của từng chủ thể cần được xác định cụ thể, thay vì chỉ dừng ở cam kết chung về tổ chức sản xuất và thu mua.
Thực tế, sản xuất tập trung chỉ phát huy hiệu quả khi có sự đồng bộ giữa vùng nguyên liệu và năng lực tiêu thụ. Nếu diện tích được mở rộng nhưng chưa xác định rõ đơn vị mua hàng, sản lượng có thể tiêu thụ theo từng vụ và yêu cầu chất lượng của thị trường, nông dân vẫn có nguy cơ phải tự tìm đầu ra khi thu hoạch. Vì vậy, UBND xã khuyến khích hợp tác xã chủ động làm việc với doanh nghiệp, cơ sở chế biến và đơn vị phân phối, tiến tới có biên bản ghi nhớ, hợp đồng nguyên tắc hoặc thỏa thuận tiêu thụ trước khi tổ chức sản xuất quy mô lớn.
Cùng với đầu ra, khái niệm “lúa sạch” được sử dụng trong kế hoạch cũng cần được cụ thể hóa. Theo UBND xã, kế hoạch chưa xác định rõ bộ tiêu chí, quy trình sản xuất và phương thức kiểm soát chất lượng. Nếu không có các yêu cầu kỹ thuật thống nhất, tên gọi “lúa sạch” sẽ khó trở thành căn cứ để giám sát sản xuất, phân loại sản phẩm và tạo niềm tin với người mua.
Hợp tác xã được yêu cầu xây dựng quy trình kỹ thuật từ lựa chọn giống, nguồn gốc giống, lịch thời vụ, lượng giống gieo sạ, quản lý nước đến chăm sóc cây lúa. Việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và các loại vật tư phải có nguyên tắc rõ ràng về chủng loại, liều lượng, thời gian cách ly. Đồng thời, cần tổ chức ghi chép nhật ký sản xuất, nhận diện từng hộ và lô sản xuất, xây dựng cơ chế giám sát nội bộ cũng như quy định cách xử lý đối với sản phẩm không tuân thủ quy trình hoặc không đạt yêu cầu.
Trường hợp hướng tới VietGAP, sản xuất hữu cơ, an toàn thực phẩm hoặc một tiêu chuẩn cụ thể khác, hợp tác xã phải xác định rõ tiêu chuẩn dự kiến áp dụng, yêu cầu kỹ thuật và lộ trình thực hiện. Điều này có ý nghĩa trực tiếp đối với chất lượng nông sản, khả năng truy xuất nguồn gốc và việc xây dựng thương hiệu gạo về sau.
Tuy nhiên, quy trình sản xuất mới chỉ là một phần của bài toán chất lượng. Để tránh tranh chấp khi giao nhận, UBND xã yêu cầu xây dựng bộ tiêu chuẩn thu mua, quy định rõ giống lúa được tiếp nhận, hình thức thu mua lúa tươi hay lúa khô, thời điểm thu hoạch, độ ẩm, tỷ lệ tạp chất, mức độ lẫn giống, tình trạng sâu bệnh và độ đồng đều của hạt.
Các khâu lấy mẫu, kiểm tra chất lượng, cân xác định khối lượng, địa điểm giao nhận, trách nhiệm vận chuyển, bốc xếp và bảo quản cũng cần được thống nhất trước khi xuống giống. Đặc biệt, phải có nguyên tắc phân loại và điều chỉnh giá đối với sản phẩm không đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn. Những chỉ tiêu kỹ thuật cụ thể cần căn cứ yêu cầu của doanh nghiệp tiêu thụ, khả năng sơ chế, chế biến và điều kiện thực tế của vùng sản xuất.
Bài toán giá thu mua cũng được UBND xã lưu ý. Kế hoạch của hợp tác xã tạm tính mức 8.000 đồng/kg lúa tươi để tính doanh thu, nhưng mức giá này mới là giả định phục vụ xây dựng phương án, chưa phải giá thu mua được cam kết nếu chưa có căn cứ thị trường và thỏa thuận cụ thể.
Do đó, hợp tác xã cần xây dựng cơ chế giá minh bạch, có thể áp dụng giá sàn kết hợp với giá thị trường hoặc công thức giá tham chiếu. Cùng với mức giá, phải làm rõ thời điểm xác định giá, nguồn tham chiếu, mức cộng thêm đối với sản phẩm đạt tiêu chuẩn cao, mức điều chỉnh khi sản phẩm không đạt yêu cầu, thời hạn và phương thức thanh toán. Các nguyên tắc này cần được thông báo, thỏa thuận trước và thể hiện trong hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng, tránh tình trạng đến mùa thu hoạch các bên mới thương lượng, khiến người trồng lúa rơi vào thế bị động.
Để những cam kết không chỉ nằm trên giấy, UBND xã đề nghị hợp tác xã xây dựng mẫu hợp đồng hoặc thỏa thuận liên kết thống nhất với hộ dân. Văn bản cần ghi rõ diện tích, vị trí sản xuất, giống, thời vụ, quy trình kỹ thuật, dịch vụ và vật tư được cung cấp, cơ chế thanh toán hoặc đối trừ chi phí, sản lượng dự kiến, khối lượng cam kết giao nhận, tiêu chuẩn chất lượng, giá hoặc phương pháp xác định giá và thời hạn thanh toán. Quyền, nghĩa vụ của các bên, việc giám sát thực hiện, xử lý vi phạm, trường hợp bất khả kháng và giải quyết tranh chấp cũng cần được quy định cụ thể.
Không chỉ dừng ở việc thu mua lúa nguyên liệu, hợp tác xã còn được yêu cầu xác định sản phẩm cuối cùng sẽ bán dưới dạng lúa tươi, lúa khô hay gạo thành phẩm; xác định đơn vị thu mua cuối cùng, sản lượng dự kiến và khả năng tiêu thụ theo từng vụ. Nếu định hướng xây dựng thương hiệu gạo Tư Nghĩa hoặc phát triển sản phẩm OCOP, lộ trình phải gắn với sự ổn định của vùng nguyên liệu, kiểm soát chất lượng, năng lực sấy, bảo quản, xay xát, đóng gói và truy xuất nguồn gốc.
Việc liên kết với cơ sở sấy, xay xát, kho bảo quản và đơn vị phân phối ngay từ đầu cũng được khuyến khích nhằm tăng giá trị gia tăng giữ lại tại địa phương, thay vì chỉ thu mua rồi bán lúa nguyên liệu. Đây là khâu quan trọng để chuyển từ sản xuất nông sản thô sang tổ chức ngành hàng có khả năng kiểm soát chất lượng và tiếp cận thị trường theo yêu cầu cụ thể.
Một thách thức không nhỏ là nguồn vốn. Theo kế hoạch được UBND xã xem xét, chi phí trực tiếp dự kiến cho 50 ha khoảng 1,4625 tỷ đồng mỗi vụ. Nếu hợp tác xã trực tiếp thu mua phần lớn sản lượng, nhu cầu vốn lưu động tại thời điểm thu hoạch sẽ lớn, trong khi dòng tiền phải được bố trí kịp thời để thanh toán cho nông dân.
Vì vậy, hợp tác xã cần bổ sung phương án huy động vốn tự có, vốn góp, vốn vay, nguồn ứng trước của doanh nghiệp hoặc các nguồn hợp pháp khác; đồng thời làm rõ khả năng bố trí vốn thu mua. Nếu chưa chứng minh được năng lực tài chính và khả năng tiêu thụ, việc mở rộng diện tích có thể làm gia tăng áp lực vốn, ảnh hưởng đến khả năng thực hiện cam kết với người sản xuất.
Từ những yêu cầu trên, UBND xã định hướng trước mắt cần khảo sát toàn vùng, lựa chọn khu vực thuận lợi và nhóm hộ tự nguyện để triển khai giai đoạn đầu. Sau mỗi vụ, hiệu quả phải được đánh giá bằng những chỉ tiêu cụ thể như số hộ và thành viên tham gia, diện tích thực tế, tỷ lệ tuân thủ quy trình, năng suất, giá thành, tỷ lệ sản phẩm đạt chuẩn, tỷ lệ lúa được hợp tác xã thu mua, giá bán và lợi nhuận bình quân trên mỗi hecta. Chỉ khi mô hình chứng minh được hiệu quả mới tính đến việc mở rộng.
UBND xã cũng lưu ý việc sử dụng thuật ngữ trong kế hoạch. Thay vì gọi là “quy hoạch vùng sản xuất”, hợp tác xã cần điều chỉnh thành “khảo sát, đề xuất xác định và phát triển vùng sản xuất lúa tập trung” hoặc cách diễn đạt phù hợp. Hợp tác xã có trách nhiệm khảo sát, xây dựng phương án sản xuất, liên kết và đề xuất vùng nguyên liệu; việc xem xét sự phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quy hoạch chung thuộc thẩm quyền của cơ quan có trách nhiệm.
Sau khi hợp tác xã hoàn thiện kế hoạch cùng các tài liệu về hộ tham gia, chuỗi liên kết, quy trình sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng, cơ chế giá, hợp đồng, phương án tài chính và đầu ra, Phòng Kinh tế xã sẽ chủ trì phối hợp với Trung tâm Dịch vụ tổng hợp, ban nhân dân thôn 4, thôn 5 và các đơn vị liên quan khảo sát thực tế, tham mưu UBND xã xem xét định hướng vùng sản xuất, hỗ trợ kết nối kỹ thuật, hạ tầng, thị trường và các chương trình, chính sách phù hợp.
Với định hướng này, phát triển vùng lúa tập trung tại Cát Tiên không đơn thuần là tập hợp diện tích canh tác, mà là quá trình tổ chức lại sản xuất trên cơ sở liên kết thực chất giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp. Hiệu quả của mô hình sẽ không chỉ được đo bằng số hecta hình thành, mà còn ở chất lượng lúa, khả năng tiêu thụ, tính minh bạch trong thu mua và thu nhập thực tế của người trồng lúa. Đó cũng là điều kiện để vùng nguyên liệu phát triển ổn định, sử dụng hiệu quả đất và nước, từng bước nâng cao giá trị nông sản địa phương./.