![]() |
| Từ chăn nuôi lợn, gia đình chị Chu Thụ Yến, xóm Thể Dục, xã Nguyên Bình mang lại doanh thu trên 650 triệu đồng mỗi năm. Ảnh Quốc Sơn |
Tôi gặp chị Yến tại nhà ở xóm Thể Dục, xã Nguyên Bình vào một chiều Chủ Nhật, khi chị vừa trở về từ cơ quan. Chẳng kịp nghỉ ngơi, chị cùng chồng là anh Đinh Xuân Hoạ bắt tay ngay vào công việc. Người chuẩn bị thức ăn cho đàn lợn, người vệ sinh chuồng trại; rồi cả hai anh chị lại ra vườn vun những luống mía, chăm sóc giàn bí xanh sai trĩu quả, đang vào vụ thu hoạch.
Công việc tưởng như bình dị ấy đã trở thành một phần trong cuộc sống của nữ Chủ tịch Hội Nông dân xã. Sinh ra trong gia đình thuần nông, vợ chồng chị Yến có nhiều năm gắn bó với chăn nuôi và sản xuất nông nghiệp. Từ những ngày đầu chỉ nuôi 8 – 10 con lợn mỗi lứa, quy mô sản xuất của gia đình dần được mở rộng khi hai vợ chồng tích luỹ thêm kinh nghiệm và nhận thấy tiềm năng từ mô hình này. Tuy nhiên, để chăn nuôi trở thành nguồn thu nhập ổn định, gia đình chị xác định không thể dựa vào kinh nghiệm truyền thống. Năm 2016, vợ chồng chị quyết định đầu tư khoảng 130 triệu đồng xây dựng hệ thống chuồng trại. Khu chăn nuôi được dựng bằng khung sắt, mái lợp tôn, tường quây tôn, gồm 5 ô chuồng rộng rãi, thoáng đãng. Hệ thống nước cũng được đầu tư để phục vụ tắm rửa cho đàn lợn và vệ sinh chuồng trại.
Từ nền tảng đó, quy mô đàn lợn được nâng lên ổn định khoảng 40 con lợn thịt thương phẩm. Vợ chồng chị áp dụng hình thức nuôi gối, mỗi năm xuất chuồng 6 lứa, bình quân mỗi lứa 16 con. Khi xuất bán, mỗi con đạt trọng lượng từ 1,1 – 1,2 tạ lợn hơi. Tính chung, mỗi năm gia đình cung cấp ra thị trường hơn 11 tấn lợn hơi. Với giá bán trung bình 60 nghìn đồng/kg, doanh thu từ nuôi lợn đạt trên 650 triệu đồng mỗi năm.
Đằng sau kết quả đó là sự cẩn trọng trong từng khâu chăn nuôi. Chị Yến cho rằng, nuôi lợn không đơn giản là cho ăn thật nhiều để vật nuôi nhanh lớn, mà phải theo dõi sát quá trình sinh trưởng để điều chỉnh lượng thức ăn, nước uống phù hợp. Chuồng trại phải luôn sạch, khô ráo, thông thoáng; công tác phòng, chống dịch bệnh phải được đặt lên hàng đầu.
Trong đó, con giống được gia đình xác định là yếu tố quyết định hiệu quả chăn nuôi. Những con giống khoẻ mạnh, có nguồn gốc rõ ràng được ưu tiên lựa chọn. Trong quá trình nuôi, đàn lợn được theo dõi thường xuyên để kịp thời phát hiện những biểu hiện bất thường. Nguồn nước bảo đảm sạch, chuồng trại vệ sinh định kỳ. Nhờ thực hiện các biện pháp chăn nuôi an toàn, trong những đợt dịch tả lợn châu Phi xảy ra, đàn lợn của gia đình chị vẫn được bảo vệ an toàn. Không chỉ chú trọng kỹ thuật, gia đình chị Yến còn tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu sẵn có để giảm chi phí sản xuất. Đây cũng là điểm đáng chú ý trong cách làm kinh tế của vợ chồng chị.
Gia đình kết hợp nghề nấu rượu với chăn nuôi lợn. Sau quá trình nấu rượu, phần bã được giữ lại, phối trộn với bột ngô để làm thức ăn cho đàn lợn. Theo anh Hoạ, chồng chị Yến, cách làm này giúp gia đình chủ động một phần nguồn thức ăn, đồng thời kiểm soát được nguyên liệu sử dụng trong chăn nuôi, nên rất yên tâm.
Tận dụng phụ phẩm theo cách này đã mang lại hiệu quả kép. Gia đình vừa có thêm nguồn thu từ nghề nấu rượu, vừa giảm chi phí thức ăn chăn nuôi. Theo chị Yến, thịt lợn được nuôi chủ yếu bằng bã rượu và bột ngô có chất lượng tốt, thịt săn chắc, thơm, được thương lái đánh giá cao.
![]() |
| Vườn mía 500 gốc trồng của gia đình chị Chu Thị Yến, xóm Thể Dục, xã Nguyên Bình mang lại doanh thu 12 triệu đồng/năm. Ảnh Quốc Sơn |
Nếu chăn nuôi là nguồn thu nhập chính thì cây trồng lại tạo cho gia đình đa dạng nguồn thu. Vợ chồng chị Yến duy trì cây trồng truyền thống của địa phương, đồng thời mạnh dạn đưa giống cây mới về sản xuất, từng bước hình thành phương thức canh tác đa dạng. Trong số cây trồng gắn bó lâu năm với gia đình, mía vàng giống bản địa là sản phẩm được duy gần 40 năm qua. Đây cũng là một trong những cây trồng đặc sản của địa phương Nguyên Bình. Hiện gia đình chị trồng khoảng 500 gốc mía trên diện tích hơn 300 m2, bình quân mỗi gốc có 4 – 5 cây. Khi thu hoạch, mỗi gốc mía bán khoảng 25 nghìn đồng, đem lại nguồn thu hơn 12 triệu đồng mỗi năm.
Không dừng lại ở những cây trồng quen thuộc, năm 2023, gia đình chị Yến là hộ đầu tiên trong xóm đưa cây bí xanh về trồng. Trên diện tích 1.000 m2, mỗi năm gia đình duy trì từ 400 – 500 gốc bí. Sau khoảng 4 tháng trồng và chăm sóc, bí cho thu hoạch, sản lượng đạt 1,5 tấn quả. Với giá bán 10 nghìn đồng/kg, mỗi vụ mang lại doanh thu khoảng 15 triệu đồng.
Từ một thử nghiệm ban đầu, cây bí xanh cho thấy khả năng thích nghi với điều kiện đất đai, khí hậu ở địa phương. Chị Yến kể, khi bắt đầu trồng, hai vợ chồng chỉ muốn xem giống cây này có phù hợp hay không. Không ngờ cây sinh trưởng tốt, quả đều, đẹp, chất lượng ổn định, Sau vụ đầu tiên, gia đình tiếp tục duy trì. Thấy hiệu quả, nhiều hộ trong xóm cũng học tập, làm theo.
Đáng chú ý, cả vườn mía và bí xanh của gia đình đều được sản xuất theo hướng sạch, hữu cơ. Từ khâu làm đất, cây giống, trồng, chăm sóc, làm cỏ đến bón phân, thu hoạch được gia đình thực hiện cẩn thận. Phân lợn được thu gom, ủ hoai mục trước khi sử dụng để bón cho cây. Gia đình không sử dụng phân bón hoá học, thuốc bảo vệ thực vật hay thuốc diệt cỏ.
Nhờ đó, mía vẫn giữ được hương vị đặc trưng, vị ngọt đậm nhưng thanh mát, mềm mà giòn, nhiều nước và ít xơ. Bí xanh cho quả chắc, thịt giòn, đặc ruột, vị ngọt thanh, ít xốp. Chất lượng sản phẩm được khách hàng và thương lái tin tưởng đặt mua.
![]() |
| Vườn bí xanh của chị Chu Thụ Yến, xóm Thể Dục, xã Nguyên Bình góp phần tăng thêm nguồn thu nhập hằng năm cho gia đình. Ảnh Quốc Sơn. |
Hiệu quả của mô hình không chỉ nằm ở doanh thu của từng sản phẩm mà còn ở sự liên kết giữa các khâu. Nghề nấu rượu tạo ra bã rượu làm thức ăn cho lợn; chăn nuôi lợn cung cấp nguồn phân hữu cơ để bón cho mía và bí xanh; cây trồng tạo ra sản phẩm hàng hoá cung cấp cho thị trường. Nguồn thu từ các hoạt động sản xuất được sử dụng một phần phục vụ đời sống, tích luỹ và tiếp tục tái đầu tư.
Một vòng tuần hoàn sản xuất khép kín được hình thành, giúp tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có, giảm chi phí đầu vào và hạn chế chất thải. Cách làm này cho thấy tư duy sản xuất hướng tới an toàn, tiết kiệm và bền vững, thay vì chạy theo việc mở rộng quy mô bằng mọi giá,
Với chị Yến, làm nông nghiệp không nhất thiết phải bắt đầu bằng một mô hình thật lớn. Điều quan trọng, người nông dân phải biết tính toán, lựa chọn cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện gia đình; tận dụng lợi thế của địa phương, đồng thời quan tâm đến chất lượng để nâng cao giá trị sản phẩm.
“Nhà tôi neo người, bản thân tôi làm công tác Hội nên không thể mở rộng sản xuất quá nhiều. Quy mô hiện nay vừa sức để hai vợ chồng chăm sóc. Làm nông nghiệp phải lấy hiệu quả và sự bền vững làm chính, chứ không chạy theo số lượng”, chị Yến bộc bạch.
Có thể mô hình kinh tế của gia đình chị Yến chưa phải là mô hình có quy mô lớn so với nhiều cơ sở sản xuất hàng hoá hiện nay. Song, điều đáng ghi nhận lại nằm ở sức lan toả từ chính cách làm ấy. Là Chủ tịch Hội Nông dân xã, chị hiểu rằng muốn vận động hội viên phát triển kinh tế, trước hết người cán bộ Hội phải làm được, phải dám nghĩ, dám làm và có kinh nghiệm thực tế để chia sẻ.
Bởi vậy, trong công tác Hội, chị Yến thường xuyên bám sát cơ sở, nắm tâm tư, nguyện vọng của hội viên; đồng thời chia sẻ kinh nghiệm, kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi và cách xây dựng mô hình phát triển kinh tế hộ. Chị khuyến khích hội viên lựa chọn hướng sản xuất phù hợp với điều kiện gia đình, phát huy lợi thế sẵn có của địa phương, từng bước chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất chú trọng chất lượng và hiệu quả.
Tận tâm với công tác Hội, cần mẫn với mô hình kinh tế gia đình, chị Chu Thị Yến là hình mẫu một cán bộ “nói đi đôi với làm”. Từ những việc làm cụ thể, nữ Chủ tịch Hội Nông dân xã Nguyên Bình góp phần truyền cản hứng về tinh thần cần cù, sáng tạo trong lao động; khơi dậy ý chí vươn lên của hội viên. Mô hình kinh tế của gia đình chị Yến cho thấy, khi biết tận dụng lợi thế, làm chủ kỹ thuật, chú trọng chất lượng và kiên trì với hướng đi phù hợp, người nông dân hoàn toàn có thể tạo dựng sinh kế, giảm nghèo bền vững và từng bước vươn lên làm giàu chính đáng trên mảnh đất quê hương.