Thứ bảy 20/06/2026 11:08Thứ bảy 20/06/2026 11:08 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Nông nghiệp hữu cơ trước những yêu cầu mới của "tam nông"

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Trong dòng chảy đổi mới tư duy phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn (gọi tắt là tam nông), nông nghiệp hữu cơ không còn là câu chuyện riêng của một nhóm người sản xuất tiên phong. Trước những yêu cầu thực tiễn về tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số, nâng cao đời sống nông dân và xây dựng nông thôn hiện đại, hữu cơ đang đứng trước một vai trò rộng lớn hơn: trở thành một phương thức tổ chức lại sản xuất, thị trường và không gian sống ở nông thôn theo hướng bền vững.
(AVA)Phát triển nông nghiệp hữu cơ cần bắt đầu từ những vùng sản xuất thật, nơi người nông dân là chủ thể và tiêu chuẩn được thực thi trong từng quy trình canh tác
Phát triển nông nghiệp hữu cơ cần bắt đầu từ những vùng sản xuất thật, nơi người nông dân là chủ thể và tiêu chuẩn được thực thi trong từng quy trình canh tác.

Có một thời gian dài, khi nói đến nông nghiệp hữu cơ, nhiều người thường nghĩ trước hết đến việc “không dùng phân bón hóa học, không dùng thuốc bảo vệ thực vật tổng hợp”. Cách hiểu ấy không sai, nhưng chưa đủ. Trong bối cảnh hiện nay, nông nghiệp hữu cơ phải được nhìn nhận như một hệ thống phát triển: bắt đầu từ đất, nước, giống, đa dạng sinh học; đi qua tổ chức sản xuất, hợp tác xã (HTX), doanh nghiệp, chế biến, logistics; và cuối cùng được kiểm chứng bằng thị trường, thu nhập của nông dân, niềm tin của người tiêu dùng cùng chất lượng môi trường, đặc biệt là nông thôn.

Từ tư duy sản lượng đến giá trị bền vững

Đây cũng là tinh thần xuyên suốt trong định hướng lớn của Đảng và Nhà nước về “tam nông” thời kỳ mới. Nghị quyết số 19-NQ/TW do Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII ban hành ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã chỉ rõ, đặt mục tiêu xây dựng nền “nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh”. Đồng thời, kết luận số 219-KL/TW ngày 26/11/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TWtiếp tục nhấn mạnh yêu cầu khắc phục những hạn chế sau hơn ba năm triển khai, trong đó có tình trạng tăng trưởng nông nghiệp chưa thật sự bền vững, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh ở nhiều khâu còn chưa sát với thực tế.

Trên nền tảng đó, Nghị quyết số 85/NQ-CP của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 219-KL/TW không chỉ là một văn bản điều hành, mà còn là lời nhắc về một cách tiếp cận mới: phát triển nông nghiệp phải gắn với chất lượng tăng trưởng, giá trị gia tăng, môi trường sinh thái, năng lực của người nông dân và trách nhiệm của địa phương.

Tại Lễ kỷ niệm 80 năm ngành Nông nghiệp và Môi trường, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng sinh thái, giá trị gia tăng cao; chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, từ tăng sản lượng sang nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và xây dựng thương hiệu; “phát triển mạnh nông nghiệp sinh thái, hữu cơ, tuần hoàn, ứng dụng công nghệ cao”. Phát biểu mang tính chiến lược của Tổng Bí thư nhìn từ thực tiễn nông thôn hôm nay, không chỉ là một định hướng ngành. Đó là yêu cầu thay đổi tận gốc cách làm nông nghiệp: không chạy theo sản lượng bằng mọi giá, không đánh đổi đất đai và nguồn nước lấy tăng trưởng ngắn hạn, không để nông dân đơn độc trước biến động thị trường và rủi ro khí hậu.

Yêu cầu mới của “tam nông” vì vậy đặt nông nghiệp hữu cơ vào một vị trí vừa thuận lợi, nhưng cũng nhiều sức ép. Thuận lợi là bởi các sản phẩm hữu cơ phù hợp với xu hướng tiêu dùng an toàn, với đòi hỏi bảo vệ môi trường, với cam kết giảm phát thải và với nhu cầu xây dựng thương hiệu nông sản quốc gia. Tuy nhiên, gánh nặng đặt lên vai cũng rất lớn, bởi hữu cơ không thể chỉ dừng ở một vài mô hình trình diễn, ở một số sản phẩm được chứng nhận, hay những câu chuyện đẹp trên truyền thông. Muốn trở thành động lực thực chất, nông nghiệp hữu cơ phải bước vào đời sống sản xuất hằng ngày. Ở đó, người nông dân phải có thu nhập đủ tốt để kiên trì với quy trình nghiêm ngặt; doanh nghiệp phải nhìn thấy cơ hội đầu tư dài hạn; HTX phải đủ năng lực quản trị vùng nguyên liệu; địa phương phải bền bỉ bảo vệ mô hình trước tâm lý làm theo phong trào; còn người tiêu dùng phải được thuyết phục bằng sự minh bạch, truy xuất rõ ràng và tiêu chuẩn được thực thi nghiêm túc.

Nông nghiệp hữu cơ trước những yêu cầu mới của
Đề án lúa chất lượng cao, phát thải thấp ở Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy nông nghiệp xanh phải bắt đầu từ thay đổi quy trình sản xuất hằng ngày.

Hữu cơ bắt đầu từ những mô hình thật

Từ thực tiễn nhiều địa phương, có thể thấy con đường hữu cơ không bắt đầu bằng khẩu hiệu mà bắt đầu bằng lựa chọn sản phẩm, lựa chọn vùng, lựa chọn con người và lựa chọn cách tổ chức. Ở Đồng bằng sông Cửu Long, Đề án phát triển một triệu héc ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp cho thấy một hướng chuyển đổi đáng chú ý: cây lúa không chỉ được nhìn bằng năng suất, mà còn được nhìn bằng phát thải, chi phí đầu vào, quản lý nước, tái sử dụng rơm rạ và lợi nhuận của người trồng lúa. Khi rơm rạ không còn là phụ phẩm bị đốt bỏ mà trở thành nguyên liệu cho trồng nấm, ủ phân hữu cơ hoặc phục vụ chăn nuôi, đó chính là cách tư duy tuần hoàn đi vào ruộng đồng. Khi nông dân giảm lượng giống gieo sạ, tiết kiệm phân bón, giảm thuốc bảo vệ thực vật và tham gia HTX để bán lúa theo chuỗi, đó là bước chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất có quản trị.

Tại Bến Tre, câu chuyện về sản phẩm dừa hữu cơ cho thấy một khía cạnh khác: hữu cơ chỉ bền vững khi có doanh nghiệp chế biến, vùng nguyên liệu, hợp đồng liên kết và thị trường đủ ổn định. Với cây dừa, người nông dân không chỉ bán quả tươi. Giá trị nằm ở chuỗi chế biến sâu, ở sản phẩm xuất khẩu, ở tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu của những thị trường khó tính. Nhưng để đi được đường dài, doanh nghiệp không thể đứng ngoài nông dân, còn nông dân cũng không thể sản xuất theo thói quen cũ rồi kỳ vọng sản phẩm được thị trường trả giá cao. Kỷ luật khi làm hữu cơ trước hết là kỷ luật của chuỗi: ghi chép, kiểm soát đầu vào, bảo vệ vùng đệm, tuân thủ thời gian chuyển đổi, không phá vỡ cam kết khi giá thị trường biến động.

Với các địa phương vùng miền núi, yêu cầu ấy càng rõ hơn. Lai Châu là một ví dụ đáng chú ý. Đây là địa phương có lợi thế về khí hậu, thổ nhưỡng, đa dạng sinh học và nhiều sản phẩm bản địa có khả năng phát triển theo mô hình sản xuất hữu cơ, sinh thái, dược liệu, OCOP và du lịch nông nghiệp. Mới đây vào tháng 3/2026, đoàn công tác của Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) đã có chuyến làm việc với tỉnh Lai Châu. Từ những khảo sát thực tế và các cuộc trao đổi giữa địa phương, doanh nghiệp với VOAA, có thể thấy hướng đi của Lai Châu không nằm ở việc mở rộng vùng sản xuất hữu cơ một cách dàn trải. Điều quan trọng hơn là nhận diện đúng giá trị bản địa, tổ chức lại liên kết sản xuất, đưa doanh nghiệp tham gia chuỗi ngay từ đầu, lựa chọn bộ tiêu chuẩn phù hợp với điều kiện nông hộ vùng cao và bảo đảm để người dân không đứng ngoài, mà thực sự trở thành chủ thể của quá trình chuyển đổi.

Nông nghiệp hữu cơ trước những yêu cầu mới của
Đoàn công tác của Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam khảo sát vùng sản xuất tại Lai Châu, gợi mở hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ gắn với giá trị bản địa.

Điều đáng nói ở Lai Châu là nông nghiệp hữu cơ không thể tách khỏi câu chuyện sinh kế miền núi. Một vùng dược liệu dưới tán rừng, một nương chè, một sản phẩm sâm bản địa hay một vùng cây ăn quả đặc sản không chỉ là đơn vị sản xuất, mà còn là một phần của văn hóa cộng đồng, tri thức bản địa và hệ sinh thái rừng. Nếu làm hữu cơ bằng cách áp đặt máy móc từ đồng bằng lên miền núi, nguy cơ thất bại rất cao. Nhưng nếu biết bắt đầu từ lợi thế bản địa, chọn mô hình điểm thật chắc, gắn tiêu chuẩn với tập quán sản xuất tiến bộ, đưa doanh nghiệp vào từ đầu, hỗ trợ truy xuất nguồn gốc, đào tạo cán bộ cơ sở và tạo thị trường ổn định, hữu cơ có thể trở thành con đường nâng giá trị cho nông sản vùng cao mà không làm mất bản sắc.

Ở đây, vai trò của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp như VOAA sẽ là cầu nối quan trọng giữa tiêu chuẩn, chuyên gia, HTX, doanh nghiệp và người tiêu dùng; Hiệp hội có thể tham gia tư vấn mô hình, hỗ trợ đào tạo, thúc đẩy chứng nhận tiêu chuẩn cơ sở, kết nối thị trường và phản biện chính sách từ thực tiễn. Khi nông nghiệp hữu cơ cần một hệ sinh thái niềm tin, những cầu nối như vậy là cần thiết, miễn là hoạt động ấy bám sát nhu cầu địa phương, tôn trọng chủ thể sản xuất và không biến hữu cơ thành phong trào hình thức.

Khi nông dân trở thành người quản trị chuỗi giá trị

Một yêu cầu mới khác của “tam nông” là nâng cấp người nông dân từ người sản xuất đơn thuần thành người quản trị. Trong nền nông nghiệp hữu cơ, nông dân không chỉ gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch. Họ phải biết ghi chép nhật ký đồng ruộng, nhận diện rủi ro ô nhiễm, hiểu quy trình chuyển đổi, biết vì sao một loại vật tư được dùng hoặc không được dùng, biết liên kết với hộ khác để tạo vùng nguyên liệu và biết bảo vệ uy tín chung của cộng đồng sản xuất. Điều đó lý giải vì sao Nghị quyết số 85/NQ-CP đặt vấn đề giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn như một nội dung quan trọng. Nói cách khác, không có nông dân chuyên nghiệp thì khó có nền nông nghiệp hữu cơ chuyên nghiệp.

Tuy nhiên, chuyên nghiệp hóa nông dân không thể chỉ bằng các lớp tập huấn ngắn ngày. Hệ thống khuyến nông cần đổi mới, bám sát đồng ruộng, thực hành, gắn với HTX và doanh nghiệp nhiều hơn. Cán bộ cơ sở phải được trang bị kiến thức về tiêu chuẩn, thị trường, chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc và quản trị rủi ro. Hợp tác xã phải được hỗ trợ để trở thành trung tâm tổ chức sản xuất, chứ không chỉ là nơi tập hợp danh sách xã viên. Doanh nghiệp cần phải tham gia theo tinh thần chia sẻ lợi ích, cùng đầu tư vùng nguyên liệu, cùng chịu trách nhiệm với chất lượng, thay vì chỉ xuất hiện ở khâu thu mua.

Chuyển đổi số cũng không nằm ngoài câu chuyện của nông nghiệp hữu cơ. Một mã QR trên bao bì chưa đủ để gọi là minh bạch. Điều cần hơn là dữ liệu sản xuất phải được tạo ra thật, cập nhật thường xuyên, có khả năng kiểm chứng và phục vụ quản trị. Với nông nghiệp hữu cơ, dữ liệu về đất, nước, vùng đệm, vật tư đầu vào, nhật ký canh tác, thu hoạch, sơ chế, vận chuyển và phản hồi thị trường đều có giá trị. Nếu làm tốt, chuyển đổi số giúp giảm chi phí giám sát, tăng niềm tin người tiêu dùng, hỗ trợ chứng nhận và mở đường cho thương mại điện tử, logistics lạnh, truy xuất theo lô hàng. Nếu chỉ là hình thức, mã QR chỉ là một lớp tem bên ngoài một quy trình chưa thay đổi.

Nông nghiệp hữu cơ trước những yêu cầu mới của
Trong sản xuất hữu cơ, người nông dân không chỉ canh tác mà còn phải tuân thủ quy trình, ghi chép nhật ký và cùng hợp tác xã bảo vệ uy tín vùng nguyên liệu.

Cũng cần thẳng thắn nhìn nhận rằng phát triển hữu cơ ở Việt Nam còn nhiều điểm nghẽn. Quy mô sản xuất nhỏ, đất đai manh mún, chi phí chứng nhận cao, thời gian chuyển đổi dài, thị trường chưa ổn định, hàng thật - hàng giả khó phân biệt, thói quen sử dụng vật tư nông nghiệp hóa học còn phổ biến, trong khi năng lực hợp tác xã chưa đồng đều. Ở một số nơi, nông nghiệp hữu cơ được nhắc đến như một khẩu hiệu phát triển, nhưng thiếu bản đồ vùng phù hợp, thiếu doanh nghiệp đồng hành, thiếu cán bộ kỹ thuật và thiếu cơ chế giám sát sau chứng nhận. Chính những khoảng trống ấy làm suy giảm niềm tin và khiến nông dân e ngại.

Vì vậy, trách nhiệm của địa phương trong giai đoạn tới không chỉ là ban hành kế hoạch, mà là lựa chọn đúng trọng tâm. Mỗi tỉnh, mỗi vùng cần xác định rõ sản phẩm nào có lợi thế hữu cơ, vùng nào đủ điều kiện chuyển đổi, cộng đồng nông dân nào sẵn sàng tham gia, doanh nghiệp nào có năng lực bao tiêu, tiêu chuẩn nào phù hợp, thị trường nào hướng tới. Không nên chạy theo diện tích hữu cơ bằng mọi giá. Một mô hình nhỏ nhưng thật, có nông dân được hưởng lợi, có doanh nghiệp đồng hành, có dữ liệu minh bạch, có môi trường được cải thiện, có thị trường ổn định, sẽ có sức thuyết phục hơn nhiều so với những con số lớn nhưng thiếu nền tảng.

Nhìn rộng hơn, nông nghiệp hữu cơ đang đứng trước yêu cầu mới của “tam nông”, không chỉ là một nhánh nhỏ trong bức tranh nông nghiệp hiện đại, mà là thước đo cho chất lượng của quá trình phát triển. Khi đất đai được phục hồi, nguồn nước được gìn giữ, người nông dân có sinh kế bền vững hơn, HTX đủ sức tổ chức sản xuất, doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn và người tiêu dùng được củng cố niềm tin, hữu cơ không còn dừng lại ở một phương thức canh tác. Nó trở thành một cách phát triển nông nghiệp có trách nhiệm hơn với con người, thị trường và môi trường.

Con đường ấy chắc chắn không dễ. Nhưng trong một thời kỳ mà biến đổi khí hậu, cạnh tranh thị trường, yêu cầu an toàn thực phẩm và sức ép chuyển đổi xanh đang cùng lúc đặt gánh nặng lên vai ngành nông nghiệp, Việt Nam không thể tiếp tục phát triển bằng tư duy xưa cũ. Nông nghiệp hữu cơ cần được phát triển bền vững, bài bản, dựa trên tiêu chuẩn, khoa học, thị trường và lợi ích thực chất của nông dân. Đó cũng là cách để tinh thần “nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh” không chỉ nằm trong văn kiện, mà hiện diện trên từng cánh đồng, từng hợp tác xã, từng sản phẩm và từng làng quê Việt Nam./.

Nông nghiệp hữu cơ - Nền tảng của nông nghiệp xanh: Lý luận, thực tiễn và định hướng phát triển ở Việt Nam Nông nghiệp hữu cơ - Nền tảng của nông nghiệp xanh: Lý luận, thực tiễn và định hướng phát triển ở Việt Nam

Nông nghiệp hữu cơ là nền tảng của nông nghiệp xanh, hướng đến sản xuất an toàn, bền vững và thân thiện với môi trường. ...

Việt Nam đứng thứ 5 châu Á về diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ Việt Nam đứng thứ 5 châu Á về diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ

Theo Báo cáo thường niên The World of Organic Agriculture 2026, diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ của Việt Nam đến cuối năm ...

Xu thế phát triển nông nghiệp hữu cơ trên thế giới và hướng đi của Việt Nam Xu thế phát triển nông nghiệp hữu cơ trên thế giới và hướng đi của Việt Nam

Nông nghiệp hữu cơ là phương thức sản xuất thân thiện với môi trường, hạn chế hóa chất tổng hợp, ưu tiên sử dụng nguồn ...

Phát triển kinh tế nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn Phát triển kinh tế nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn

Bám sát định hướng phát triển nông nghiệp sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải, phường Hương An đang ...

Tri ân nghề báo, tiếp tục đổi mới vì nền nông nghiệp hữu cơ bền vững Tri ân nghề báo, tiếp tục đổi mới vì nền nông nghiệp hữu cơ bền vững

Nhân dịp kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2026), Tạp chí Hữu cơ Việt Nam đã tổ chức ...

Bài liên quan

CÁC TIN BÀI KHÁC

Báo chí đồng hành cùng nông nghiệp hữu cơ Việt Nam bước vào kỷ nguyên xanh

Báo chí đồng hành cùng nông nghiệp hữu cơ Việt Nam bước vào kỷ nguyên xanh

Nhân kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2026), Tạp chí Hữu cơ Việt Nam đã có cuộc trao đổi với TSKH. Hà Phúc Mịch, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khoá XI, Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) về vai trò của báo chí nói chung, báo chí số nói riêng trong phát triển nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn. Theo Chủ tịch VOAA, trong giai đoạn mới, báo chí không chỉ là kênh truyền tải thông tin, mà còn là lực lượng kiến tạo nhận thức, bảo vệ niềm tin thị trường và thúc đẩy hành động xã hội vì một nền nông nghiệp minh bạch, trách nhiệm, bền vững.
Ngọn đuốc soi đường cho báo chí cách mạng Việt Nam

Ngọn đuốc soi đường cho báo chí cách mạng Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt nền móng cho báo chí cách mạng Việt Nam bằng việc sáng lập báo Thanh Niên (1925), định hướng tuyên truyền vì độc lập dân tộc, đào tạo lớp nhà báo đầu tiên và chỉ rõ tôn chỉ, mục đích phụng sự cách mạng, nhân dân.
Bác Hồ với phê bình trên Báo chí: Kim chỉ nam cho báo chí cách mạng Việt Nam

Bác Hồ với phê bình trên Báo chí: Kim chỉ nam cho báo chí cách mạng Việt Nam

Bài viết làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về phê bình trên báo chí cách mạng: phê bình phải trung thực, khách quan, có căn cứ, nhằm xây dựng và tiến bộ. Người nhấn mạnh vai trò giám sát của nhân dân, trách nhiệm tiếp thu phê bình của cán bộ, đảng viên và coi đây là kim chỉ nam để báo chí thực hiện tốt chức năng phản biện xã hội, phục vụ nhân dân.
Vai trò của báo chí - truyền thông đối với tăng trưởng xanh trong phát triển bền vững

Vai trò của báo chí - truyền thông đối với tăng trưởng xanh trong phát triển bền vững

Báo chí - truyền thông giữ vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững. Thông qua tuyên truyền, nâng cao nhận thức, lan tỏa các mô hình hiệu quả và giám sát thực thi chính sách, báo chí góp phần hình thành lối sống xanh, khuyến khích sản xuất, tiêu dùng bền vững và bảo vệ môi trường.
Công nghệ số mở đường cho nông nghiệp hữu cơ: Từ khảo sát thông minh đến quản trị vùng trồng

Công nghệ số mở đường cho nông nghiệp hữu cơ: Từ khảo sát thông minh đến quản trị vùng trồng

Nông nghiệp hữu cơ đang trở thành xu thế tất yếu của phát triển bền vững, yêu cầu về minh bạch dữ liệu, kiểm soát vùng trồng và truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe hơn. Không còn là câu chuyện chỉ dựa vào kinh nghiệm canh tác truyền thống, nông nghiệp hữu cơ hiện nay đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ với sự hỗ trợ của công nghệ số. Tại buổi hội thảo chuyên đề do Chi cục trồng trọt và Bảo vệ thực vật – Sở NN&MT Lâm Đồng tổ chức, Công ty VDCD đã giới thiệu hàng loạt giải pháp công nghệ ứng dụng trong khảo sát, đo đạc và số hóa bản đồ 2D, 3D, VR360, mở ra hướng tiếp cận mới cho quản lý vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ.
Kinh tế báo chí và con đường tự chủ tài chính

Kinh tế báo chí và con đường tự chủ tài chính

Mãi đến gần đây vấn đề tự chủ báo chí mới được đặt ra một cách cấp thiết. Trước đây rất nhiều người quan niệm báo chí sinh ra là để phục vụ mục đích chính trị, tốn kém cũng được nhưng phải đúng, trúng, hay…
Khi báo chí trở thành cầu nối giữa nhà khoa học và người nông dân

Khi báo chí trở thành cầu nối giữa nhà khoa học và người nông dân

Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mạnh theo hướng công nghệ cao và kinh tế xanh, vai trò của báo chí không còn dừng ở việc đưa tin mùa vụ hay phản ánh thị trường. Nhà báo ngày nay đang trở thành chiếc cầu nối đặc biệt giữa phòng thí nghiệm và cánh đồng, giúp các tiến bộ khoa học đi nhanh hơn tới người nông dân. Từ giống cây mới, kỹ thuật canh tác số cho tới mô hình nông nghiệp tuần hoàn, báo chí đang góp phần rút ngắn khoảng cách giữa tri thức khoa học và thực tiễn sản xuất.
Thống nhất chủ trương tổ chức kỷ niệm 15 năm thành lập Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam

Thống nhất chủ trương tổ chức kỷ niệm 15 năm thành lập Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam

Bộ Nông nghiệp và Môi trường thống nhất chủ trương tổ chức các hoạt động kỷ niệm 15 năm thành lập Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam theo hướng xã hội hóa, thiết thực, hiệu quả, tiết kiệm, tránh hình thức; đồng thời yêu cầu chuỗi hoạt động phải gắn với mục tiêu thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ, lan tỏa giá trị sản xuất xanh, tiêu dùng bền vững và nâng tầm vị thế nông nghiệp hữu cơ Việt Nam.
Ngành phân bón Việt Nam trước yêu cầu tự chủ, xanh hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh

Ngành phân bón Việt Nam trước yêu cầu tự chủ, xanh hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh

Trong bối cảnh địa chính trị toàn cầu biến động nhanh, chuỗi cung ứng nguyên liệu, năng lượng và logistics liên tục chịu sức ép, ngành phân bón Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải xây dựng định hướng phát triển dài hạn theo hướng tự chủ, xanh hóa, ứng dụng công nghệ thông minh và gắn chặt với mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững.
Khát vọng thuận thiên và sứ mệnh làm "trụ đỡ" thế kỷ

Khát vọng thuận thiên và sứ mệnh làm "trụ đỡ" thế kỷ

Sự tương tác giữa canh tác bền vững, bảo tồn hệ sinh thái và ứng phó với thiên tai khốc liệt chính là chìa khóa cho bài toán an ninh lương thực.
Chăn nuôi hữu cơ ở miền núi Việt Nam: Thực trạng và giải pháp phát triển

Chăn nuôi hữu cơ ở miền núi Việt Nam: Thực trạng và giải pháp phát triển

Chăn nuôi hữu cơ ở miền núi đang trở thành hướng phát triển nông nghiệp bền vững nhờ tận dụng lợi thế đồng cỏ tự nhiên, môi trường sinh thái trong lành và tập quán chăn thả truyền thống. Mô hình này góp phần nâng cao giá trị sản phẩm, tăng thu nhập cho người dân và bảo vệ môi trường.
Tập huấn TOT về nông nghiệp hữu cơ và PGS cho các tổ chức sản xuất rừng, trang trại miền núi phía Bắc

Tập huấn TOT về nông nghiệp hữu cơ và PGS cho các tổ chức sản xuất rừng, trang trại miền núi phía Bắc

Từ ngày 08 đến 12/6/2026, tại Trường Đại học Lâm nghiệp, Trung tâm Nông nghiệp Hữu cơ tổ chức khóa tập huấn TOT với chủ đề “Nông nghiệp hữu cơ và Hệ thống đảm bảo cùng tham gia PGS cho các bên liên quan trong sản xuất rừng và trang trại tại các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam”.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính