![]() |
| Cán bộ Trung tâm Khuyến nông Đà Nẵng khảo sát, hướng dẫn người dân chăm sóc cây đương quy tại xã Trà Linh. (Ảnh: HA) |
Trà Linh mở hướng thoát nghèo từ cây dược liệu
Ở các xã miền núi phía tây Đà Nẵng, điều kiện đất đai, khí hậu và địa hình vừa tạo ra những hạn chế trong sản xuất, vừa mở ra những lợi thế riêng nếu được khai thác đúng hướng. Thay vì duy trì phương thức canh tác truyền thống với giá trị kinh tế thấp, ngành nông nghiệp thành phố đang hướng đến việc lựa chọn cây trồng, vật nuôi phù hợp từng vùng, đồng thời hỗ trợ người dân từ khâu giống, kỹ thuật đến tổ chức sản xuất.
Cách làm này đang bước đầu tạo ra những chuyển biến tại Trà Linh và Trà Đốc, nơi người dân bắt đầu có thêm lựa chọn để nâng cao thu nhập ngay trên chính quê hương mình.
Xã Trà Linh nằm trong vùng núi Ngọc Linh, nơi có điều kiện tự nhiên đặc thù để phát triển các loại cây dược liệu. Tuy nhiên, đời sống của một bộ phận người dân nơi đây vẫn còn phụ thuộc vào phương thức sản xuất truyền thống.
Trước đây, trên nhiều diện tích rẫy, người dân chủ yếu trồng sắn, bắp. Đây là những cây trồng tương đối dễ canh tác nhưng giá trị kinh tế không cao, trong khi điều kiện sản xuất vùng núi khiến việc mở rộng quy mô cũng gặp nhiều khó khăn.
Từ thực tế đó, ngành nông nghiệp thành phố định hướng đưa những loại cây có giá trị cao, phù hợp khí hậu và thổ nhưỡng vào sản xuất. Cây đương quy được lựa chọn để thử nghiệm tại Trà Linh, mở thêm một hướng đi bên cạnh các loại cây trồng truyền thống.
Theo Trung tâm Khuyến nông thành phố Đà Nẵng, khu vực núi Ngọc Linh có độ cao, khí hậu và điều kiện đất đai phù hợp để phát triển đương quy. Đây là loại dược liệu có giá trị, song việc phát triển tại địa phương vẫn còn nhiều dư địa.
Gia đình anh Hồ Văn Chiến ở xã Trà Linh là một trong những hộ tham gia mô hình. Trước khi chuyển đổi, diện tích rẫy của gia đình chủ yếu trồng sắn và bắp nên thu nhập không ổn định.
![]() |
| Anh Hồ Văn Chiến chăm sóc diện tích đương quy, mô hình mở ra hướng phát triển sinh kế mới cho người dân xã Trà Linh. (Ảnh: HA) |
Tháng 11/2025, thông qua chương trình hỗ trợ của ngành nông nghiệp, anh Chiến bắt đầu trồng đương quy với 2.000 cây giống. Cùng với cây giống, gia đình được cán bộ khuyến nông hướng dẫn từng bước từ khâu làm đất, xuống giống, chăm sóc đến theo dõi sâu bệnh.
“Trước đây mình chỉ biết trồng sắn, bắp theo lối cũ. Từ sự hỗ trợ cây giống đương quy và kỹ thuật chăm sóc, mình quyết tâm làm thử trên mảnh rẫy cũ”, anh Chiến chia sẻ.
Sau gần một năm chăm sóc, những củ đương quy đầu tiên được thu hoạch. Gia đình anh đã bán 50kg củ, thu khoảng 6 triệu đồng, với giá bình quân 120.000 đồng/kg.
Hiệu quả bước đầu giúp gia đình có thêm niềm tin vào loại cây mới. Anh Chiến tiếp tục tự gieo thêm khoảng 1.000 cây giống để mở rộng diện tích sản xuất.
Không chỉ riêng hộ anh Chiến, mô hình trồng đương quy tại Trà Linh được triển khai với quy mô 1,44ha, có 11 hộ tham gia. Qua theo dõi, tỷ lệ cây sống đạt trên 90%, cây sinh trưởng tương đối đồng đều và ít sâu bệnh.
Điểm đáng chú ý của mô hình không chỉ nằm ở kết quả thu hoạch ban đầu mà còn ở sự thay đổi trong cách nghĩ của người dân. Từ chỗ quen với những cây trồng truyền thống, một số hộ đã bắt đầu tiếp cận kỹ thuật mới, chủ động nhân giống và tính toán việc mở rộng diện tích.
Ông Nguyễn Đình Vương, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông thành phố Đà Nẵng, cho rằng kết quả bước đầu tại Trà Linh cho thấy cây đương quy có triển vọng. Việc người dân bắt đầu tự nhân giống, chủ động chăm sóc là tín hiệu tích cực để tiến tới xây dựng vùng nguyên liệu dược liệu tập trung.
Tuy nhiên, để cây dược liệu thực sự trở thành sinh kế lâu dài, việc mở rộng diện tích cần đi cùng kiểm soát chất lượng, quy trình sản xuất và liên kết tiêu thụ. Đây là yếu tố quyết định để người dân không chỉ trồng được cây mà còn có thể tạo ra giá trị ổn định từ sản phẩm.
![]() |
| Mô hình nuôi cá lồng bè trên lòng hồ Sông Tranh 2 mở thêm hướng sinh kế cho người dân vùng cao. (Ảnh: HA) |
Trà Đốc tận dụng lòng hồ, mở hướng nuôi cá lồng
Nếu Trà Linh tận dụng lợi thế về khí hậu, đất đai để phát triển dược liệu thì tại Trà Đốc, mặt nước hồ thủy điện Sông Tranh 2 đang trở thành không gian sản xuất mới cho người dân.
Lòng hồ rộng, nguồn nước tương đối thuận lợi tạo điều kiện phát triển nuôi thủy sản bằng lồng bè. Một số loại cá có giá trị kinh tế như diêu hồng, cá chình, cá thát lát được xem là những đối tượng có thể nghiên cứu, lựa chọn phù hợp với điều kiện từng khu vực.
Tuy nhiên, đối với người dân miền núi, chuyển từ đánh bắt nhỏ lẻ sang nuôi thủy sản cũng đặt ra không ít thách thức. Chi phí đầu tư ban đầu, con giống, thức ăn và đặc biệt là kỹ thuật chăm sóc là những vấn đề mà nhiều hộ chưa có kinh nghiệm.
Để tháo gỡ khó khăn này, Trung tâm Khuyến nông thành phố triển khai mô hình nuôi cá diêu hồng lồng bè, hỗ trợ người dân tiếp cận cả nguồn giống và quy trình kỹ thuật.
Gia đình ông Phạm Hữu Quốc ở thôn 2, xã Trà Đốc là một trong những hộ tham gia. Trước đây, gia đình chủ yếu đánh bắt thủ công nhỏ lẻ nên nguồn thu phụ thuộc vào sản lượng khai thác.
Tháng 6/2026, ông Quốc được hỗ trợ 7.200 con cá diêu hồng giống cùng thức ăn để nuôi trong hai lồng bè. Lần đầu chuyển sang nuôi thủy sản, ông gặp không ít bỡ ngỡ, nhất là việc kiểm soát lượng thức ăn và môi trường nước.
Nhờ được cán bộ kỹ thuật hướng dẫn, ông từng bước nắm được quy trình chăm sóc, theo dõi đàn cá và chủ động phát hiện những dấu hiệu bất thường.
“Cán bộ khuyến nông hướng dẫn tôi rất kỹ từ cách cho ăn đến việc kiểm tra môi trường nước hằng ngày để phòng bệnh cho cá. Hiện đàn cá đang lớn rất nhanh. Tôi hy vọng sau khi thu hoạch, gia đình sẽ có nguồn thu ổn định để mở rộng thêm lồng bè”, ông Quốc nói.
Theo UBND xã Trà Đốc, sau khoảng 2 tháng triển khai, cá trong mô hình đạt trọng lượng trung bình khoảng 150g/con, tỷ lệ sống 85%. Đây là cơ sở để địa phương tiếp tục đánh giá khả năng nhân rộng mô hình nuôi cá lồng trên lòng hồ.
Trước đó, các mô hình nuôi cá lồng bè được ngành khuyến nông triển khai tại một số địa bàn miền núi cũng cho thấy hiệu quả nhất định. Tỷ lệ cá sống được duy trì ở mức khá, trong khi thu nhập từ mô hình cao hơn so với phương thức nuôi đại trà.
Điều quan trọng là mô hình giúp người dân từng bước chuyển từ khai thác tự nhiên sang sản xuất chủ động. Nếu được tổ chức tốt, nuôi cá lồng không chỉ tạo thêm nguồn thu mà còn mở ra một hướng sinh kế gắn với mặt nước lòng hồ.
Theo ông Nguyễn Đình Vương, trong phát triển thủy sản miền núi, ngành khuyến nông ưu tiên những mô hình phù hợp điều kiện tự nhiên từng địa bàn. Việc hỗ trợ được thực hiện từ khảo sát nhu cầu, lựa chọn hộ, cung ứng giống và vật tư đến hướng dẫn kỹ thuật, theo dõi quá trình nuôi và tổ chức trao đổi kinh nghiệm thực tế.
Từ lợi thế bản địa đến sinh kế lâu dài
Điểm chung giữa cây đương quy ở Trà Linh và cá diêu hồng ở Trà Đốc là đều bắt đầu từ việc nhận diện đúng lợi thế của địa phương.
Một bên dựa vào khí hậu, thổ nhưỡng vùng núi Ngọc Linh để phát triển dược liệu; một bên tận dụng mặt nước hồ Sông Tranh 2 để phát triển thủy sản. Những mô hình này cho thấy việc giảm nghèo ở vùng cao không chỉ cần nguồn lực hỗ trợ mà quan trọng hơn là tạo ra sinh kế có khả năng duy trì sau khi chương trình kết thúc.
Trong quá trình đó, vai trò của ngành nông nghiệp nằm ở việc chuyển giao kỹ thuật và giúp người dân từng bước làm chủ mô hình. Khi người dân có thể tự chăm sóc cây trồng, vật nuôi, chủ động nhân giống và tính toán mở rộng sản xuất, hiệu quả của chính sách hỗ trợ mới có khả năng được duy trì lâu dài.
Tuy nhiên, để những mô hình thử nghiệm trở thành ngành sản xuất hàng hóa, vẫn cần giải quyết đồng thời bài toán thị trường, liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ. Đặc biệt với dược liệu, chất lượng nguyên liệu và đầu ra ổn định là yếu tố quyết định; còn với thủy sản lồng bè, cần kiểm soát môi trường nước, mật độ nuôi và quy trình phòng bệnh.
Từ những mảnh rẫy từng cho thu nhập thấp đến những lồng cá giữa lòng hồ, người dân vùng cao Đà Nẵng đang có thêm lựa chọn để phát triển kinh tế. Nếu được tiếp tục đầu tư đúng hướng, những mô hình này không chỉ giúp một số hộ tăng thu nhập mà còn có thể hình thành các vùng sản xuất đặc trưng, tạo sinh kế phù hợp với điều kiện tự nhiên và góp phần giảm nghèo bền vững.
Đối với vùng cao, một mô hình hiệu quả không chỉ được đo bằng số tiền thu được sau mỗi vụ, mà còn ở khả năng giúp người dân tự đứng vững bằng chính nguồn lực và lợi thế của quê hương mình.