![]() |
| Đợt thanh tra lần này còn hướng tới đánh giá hiệu quả quản lý khai thác và vận hành các công trình nước sạch nông thôn sau khi đưa vào sử dụng |
Theo văn bản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc cung cấp thông tin được thực hiện theo Kế hoạch thanh tra năm 2026 ban hành kèm Quyết định số 1176/QĐ-TTCP ngày 14/11/2025 của Thanh tra Chính phủ. Các địa phương được yêu cầu gửi đầy đủ báo cáo và hồ sơ trước ngày 12/6/2026 đến Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Thanh tra Chính phủ để phục vụ công tác thanh tra.
Danh sách địa phương thuộc diện cung cấp thông tin gồm Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Phú Thọ, Lào Cai, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Gia Lai và Quảng Ngãi. Đây là những địa phương kế thừa việc triển khai Chương trình tại 21 tỉnh tham gia trước thời điểm sắp xếp đơn vị hành chính.
Nội dung thanh tra được xây dựng với phạm vi rất rộng, bao quát toàn bộ vòng đời của Chương trình từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, triển khai thực hiện, giải ngân, quyết toán đến quản lý khai thác và vận hành các công trình sau đầu tư. Trong đó, các địa phương phải báo cáo tổng thể về mô hình thực hiện, thời gian triển khai, địa điểm xây dựng, quy mô công trình, công suất thiết kế, dây chuyền công nghệ, nguồn vốn đầu tư, tình hình thanh quyết toán cũng như hiệu quả khai thác vận hành của từng dự án thuộc Chương trình.
Một trong những nội dung trọng tâm được yêu cầu làm rõ là trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương, gồm Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Y tế, Sở Giáo dục và Đào tạo cùng các đơn vị liên quan. Các cơ quan này phải báo cáo đầy đủ chức năng, nhiệm vụ được giao và kết quả thực hiện trong quá trình triển khai Chương trình. Những nhiệm vụ liên quan đến đấu thầu, giải ngân, quản lý vốn, truyền thông, tiếp nhận và xử lý phản ánh, khiếu nại của người dân, thực hiện các chính sách về môi trường, xã hội và bình đẳng giới đều nằm trong diện rà soát. Trường hợp chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ phải nêu rõ nguyên nhân và căn cứ pháp lý liên quan.
Đối với các công trình đầu tư xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu thống kê chi tiết từng dự án, hạng mục công trình, gói thầu và nhà thầu tham gia thực hiện. Báo cáo phải thể hiện đầy đủ thông tin về công suất thiết kế, tổng mức đầu tư, nguồn vốn vay Ngân hàng Thế giới, vốn đối ứng địa phương, thời gian thực hiện, hình thức lựa chọn nhà thầu, giá trúng thầu, giá trị hợp đồng, giá trị quyết toán và đơn vị tiếp nhận quản lý vận hành. Đặc biệt, các địa phương phải lập danh mục toàn bộ công trình cấp nước hoàn thành sau ngày 1/1/2016 đã được sử dụng làm cơ sở kiểm đếm đầu ra để giải ngân nguồn vốn của Chương trình.
Cơ quan thanh tra cũng đặc biệt quan tâm đến những thay đổi trong quá trình thực hiện dự án so với hồ sơ được phê duyệt ban đầu. Các địa phương phải báo cáo toàn bộ nội dung điều chỉnh liên quan đến quy mô đầu tư, tổng mức đầu tư, công suất công trình, nguồn vốn, tiến độ thực hiện hoặc thay đổi công nghệ. Mọi sự điều chỉnh đều phải kèm theo nguyên nhân, căn cứ pháp lý và quyết định phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền.
Bên cạnh việc rà soát quá trình đầu tư, đợt thanh tra lần này còn hướng tới đánh giá hiệu quả quản lý khai thác và vận hành các công trình nước sạch nông thôn sau khi đưa vào sử dụng. Các địa phương phải thống kê toàn bộ sự cố, hư hỏng, vi phạm hoặc tình trạng công trình hoạt động không hiệu quả; làm rõ nguyên nhân phát sinh, trách nhiệm của đơn vị quản lý vận hành, biện pháp xử lý cũng như kết quả khắc phục. Những phản ánh, kiến nghị, khiếu nại hoặc tố cáo của người dân liên quan đến chất lượng nước, khả năng cung cấp nước hoặc hiệu quả sử dụng công trình đều phải được tổng hợp báo cáo đầy đủ.
Một nội dung đáng chú ý khác là yêu cầu thống kê toàn bộ các cuộc thanh tra, kiểm tra, kiểm toán và điều tra đã được thực hiện đối với Chương trình tại từng địa phương. Các địa phương phải cung cấp đầy đủ kết luận thanh tra, báo cáo kiểm toán, kết quả xử lý sau thanh tra và tình hình thực hiện các kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền. Trường hợp chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ phải nêu rõ nguyên nhân và trách nhiệm liên quan.
Để phục vụ công tác thanh tra, Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu chuẩn bị khối lượng hồ sơ rất lớn, bao gồm toàn bộ tài liệu pháp lý về chủ trương đầu tư, quyết định giao vốn, hồ sơ đấu thầu, hồ sơ nghiệm thu, hồ sơ quyết toán dự án hoàn thành, báo cáo tài chính, chứng từ bố trí vốn đối ứng và các văn bản hướng dẫn kỹ thuật liên quan. Đặc biệt, các đơn vị quản lý vận hành công trình cấp nước còn phải chuẩn bị dữ liệu khách hàng sử dụng nước, nhật ký thu tiền nước, hóa đơn, biên lai thu phí và kết quả xét nghiệm chất lượng nước trong những năm gần đây.
Thông qua hệ thống 9 phụ lục kèm theo, cơ quan thanh tra yêu cầu các địa phương báo cáo chi tiết về chức năng nhiệm vụ của từng đơn vị tham gia Chương trình; tình hình đầu tư công trình; nguồn vốn thực hiện; các thay đổi trong quá trình triển khai; tình trạng hư hỏng, vi phạm; các cuộc thanh tra, kiểm tra đã thực hiện; những khó khăn, vướng mắc về cơ chế chính sách cũng như các kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.
Việc Thanh tra Chính phủ phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường triển khai đợt thanh tra quy mô lớn lần này được đánh giá là bước rà soát toàn diện nhằm kiểm chứng hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay Ngân hàng Thế giới, đánh giá tính bền vững của các công trình nước sạch nông thôn sau đầu tư, đồng thời kịp thời phát hiện những tồn tại, hạn chế hoặc sai phạm nếu có trong quá trình thực hiện Chương trình. Kết quả thanh tra cũng sẽ là cơ sở quan trọng để hoàn thiện cơ chế quản lý, nâng cao hiệu quả đầu tư và bảo đảm quyền tiếp cận nước sạch của người dân khu vực nông thôn trong giai đoạn tiếp theo./.