ki-niem-15-voaa
Thứ sáu 16/10/2026 12:46Thứ sáu 16/10/2026 12:46 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Khẳng định vai trò khuyến nông trong canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Ngày 22/9, tại Nghệ An, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An tổ chức Diễn đàn Khuyến nông Nông nghiệp với chủ đề “Giải pháp nhân rộng mô hình canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh”.

Khẳng định vai trò khuyến nông trong canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh
Toàn cảnh Khuyến nông Nông nghiệp với chủ đề “Giải pháp nhân rộng mô hình canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh”

Giảm phát thải, giảm cả chi phí sản xuất

Theo Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, năm 2025, cả nước gieo trồng khoảng 7,13 triệu ha lúa, năng suất bình quân 61,1 tạ/ha, sản lượng khoảng 43,5 triệu tấn. Quy mô sản xuất lớn mang lại lợi thế về sản lượng và bảo đảm an ninh lương thực, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu sử dụng hiệu quả hơn nguồn nước, giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; giảm tổn thất sau thu hoạch và lượng phát thải khí nhà kính.

Trong những năm qua, nhiều chương trình tập huấn, hội thảo đã được triển khai, trong đó có kỹ thuật tưới ngập - khô xen kẽ (Alternate Wetting and Drying - AWD). Đây là phương pháp quản lý nước trong ruộng lúa theo hướng không duy trì ngập liên tục. Ruộng được để khô trong một khoảng thời gian nhất định rồi mới tưới trở lại theo ngưỡng kỹ thuật.

Cách làm này vừa hướng tới tiết kiệm nước, vừa góp phần hạn chế điều kiện phát sinh khí methane (CH4) trong ruộng lúa. Tuy nhiên, để áp dụng hiệu quả, ruộng phải có khả năng chủ động cấp, tiêu nước và người sản xuất phải nắm được thời điểm tưới, thời gian để ruộng khô cũng như yêu cầu sinh trưởng của cây lúa.

Từ góc nhìn này, ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cho rằng, sản xuất lúa đang đứng trước yêu cầu kép: vừa duy trì năng suất, hiệu quả kinh tế, vừa phải giảm tác động đến môi trường.

Theo ông Thanh, khi ruộng lúa thường xuyên ở trạng thái ngập nước, quá trình phân hủy chất hữu cơ trong điều kiện yếm khí có thể phát sinh khí methane. Trong khi đó, việc thay đổi phương thức canh tác, nhất là những tập quán đã hình thành lâu năm, không phải là chuyện có thể thực hiện trong một sớm một chiều.

Nhân rộng mô hình canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh
Ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phát biểu tại diễn đàn

Tuy nhiên, từ kết quả nghiên cứu và thực tiễn sản xuất, ngành lúa gạo vẫn còn nhiều dư địa để giảm phát thải. Vấn đề là lựa chọn được những giải pháp vừa phù hợp với điều kiện đồng ruộng, vừa giúp nông dân thấy rõ lợi ích về kinh tế.

Tại diễn đàn, Tiến sĩ Phạm Thanh Thủy, chuyên viên Phòng Khuyến nông Trồng trọt và Lâm nghiệp, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, cho rằng phát thải trong sản xuất lúa chủ yếu liên quan đến chế độ nước trên ruộng, sử dụng phân bón và quản lý rơm rạ sau thu hoạch.

Vì vậy, canh tác lúa phát thải thấp không nên được nhìn như một kỹ thuật đơn lẻ. Đây là sự kết hợp của nhiều khâu, từ quản lý nước, sử dụng giống và vật tư hợp lý đến cơ giới hóa, xử lý phụ phẩm, tổ chức sản xuất và liên kết tiêu thụ.

“Bài toán” đặt ra là các giải pháp giảm phát thải phải đồng thời giúp nông dân giảm chi phí, duy trì hoặc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Nếu chỉ yêu cầu người dân thay đổi kỹ thuật mà chưa chứng minh được lợi ích trên đồng ruộng, việc nhân rộng sẽ khó bền vững.

Từ thực tiễn triển khai các mô hình, bà Phạm Thanh Thủy đề xuất 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm: nhân rộng theo vùng sản xuất và theo gói kỹ thuật thay vì triển khai riêng lẻ từng biện pháp; coi quản lý nước là khâu trọng tâm trong giảm phát thải; giảm lượng giống, sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hợp lý; quản lý rơm rạ theo hướng tuần hoàn, tạo thêm giá trị; đẩy mạnh cơ giới hóa đồng bộ gắn với dịch vụ sản xuất; tổ chức lại sản xuất, phát huy vai trò của hợp tác xã và tăng cường liên kết với doanh nghiệp; đồng thời đổi mới phương thức khuyến nông để đáp ứng yêu cầu nhân rộng.

Theo đó, hoạt động khuyến nông cũng cần thay đổi. Thay vì dừng ở “tập huấn - xây dựng mô hình”, cần chuyển sang quy trình “hướng dẫn - thực hành - theo dõi - đánh giá - nhân rộng”.

Nhân rộng mô hình canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh
Tiến sĩ Phạm Thanh Thủy, chuyên viên Phòng Khuyến nông Trồng trọt và Lâm nghiệp, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phát biểu tại Diễn đàn

Vai trò của khuyến nông được khẳng định

Qua các tham luận, một thực tế được chỉ ra là không phải mô hình nào hiệu quả trên diện tích thí điểm cũng dễ dàng mở rộng ra sản xuất đại trà.

Trước hết là điều kiện thủy lợi nội đồng. Khả năng chủ động cấp, tiêu nước giữa các vùng còn khác nhau. Với AWD, nếu người dân không chủ động điều tiết nước hoặc mặt ruộng không bằng phẳng, việc áp dụng đúng quy trình sẽ gặp nhiều khó khăn.

Quy mô ruộng đất nhỏ, phân tán cũng là một trở ngại. Khi mỗi hộ sản xuất một cách, sử dụng lịch thời vụ, chế độ nước và quy trình kỹ thuật khác nhau, việc tổ chức một vùng sản xuất đồng nhất sẽ khó thực hiện.

Nhân rộng mô hình canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh
Năm 2025, cả nước gieo trồng khoảng 7,13 triệu ha lúa, năng suất bình quân 61,1 tạ/ha, sản lượng khoảng 43,5 triệu tấn

Trong khi đó, tập quán gieo sạ dày, bón phân theo kinh nghiệm, giữ nước thường xuyên trên ruộng và xử lý rơm rạ chưa hợp lý vẫn còn phổ biến. Thay đổi những thói quen này cần thời gian, nhưng quan trọng hơn là phải để nông dân trực tiếp nhìn thấy hiệu quả từ mô hình.

Cơ giới hóa cũng chưa đồng bộ giữa các khâu. Làm đất và thu hoạch đã được cơ giới hóa khá cao, nhưng gieo cấy, chăm sóc, quản lý nước, thu gom và xử lý rơm rạ vẫn thiếu dịch vụ phù hợp ở nhiều nơi.

Một điểm nghẽn khác là liên kết sản xuất - tiêu thụ. Có những mô hình áp dụng kỹ thuật tốt nhưng chưa hình thành được vùng nguyên liệu ổn định, chưa có doanh nghiệp đồng hành lâu dài. Khi nguồn hỗ trợ kết thúc, mô hình vì thế cũng khó duy trì.

Bên cạnh đó, việc ghi chép, theo dõi dữ liệu sản xuất và đánh giá kết quả giảm phát thải còn hạn chế. Nhiều mô hình chủ yếu quan tâm đến năng suất và hiệu quả kinh tế, trong khi các thông tin về lượng nước sử dụng, vật tư đầu vào, phụ phẩm và các chỉ tiêu liên quan đến phát thải chưa được theo dõi đầy đủ.

Nguồn lực dành cho nhân rộng cũng đang phân tán. Nếu chỉ tiếp tục hỗ trợ những mô hình nhỏ trong thời gian ngắn thì khó tạo chuyển biến ở quy mô vùng. Trong khi đó, hạ tầng thủy lợi, máy móc, dịch vụ sản xuất và đào tạo kỹ thuật lại cần sự tham gia đồng thời của địa phương, hợp tác xã, doanh nghiệp và người dân.

Từ những vấn đề trên, vai trò của hệ thống khuyến nông trong quá trình nhân rộng được đặt ra rõ hơn. Khuyến nông không chỉ là nơi tổ chức lớp tập huấn hay xây dựng mô hình trình diễn. Quan trọng hơn, cán bộ khuyến nông phải cùng nông dân thực hành trên đồng ruộng, theo dõi mực nước, điều chỉnh kỹ thuật theo mùa vụ, tính toán chi phí, năng suất và hiệu quả rồi tổng kết thành những quy trình đơn giản, dễ áp dụng.

Bởi với người nông dân, hiệu quả của một kỹ thuật không nằm trên tài liệu tập huấn mà được quyết định ngay trên thửa ruộng của họ. Khi người dân thấy rõ việc giảm lượng giống, giảm phân bón, tiết kiệm nước, giảm công lao động mà năng suất vẫn bảo đảm, khả năng mô hình được tự nhân rộng sẽ cao hơn.

Cùng với chuyển giao kỹ thuật, hệ thống khuyến nông cũng cần tham gia sâu hơn vào tổ chức sản xuất. Đó là hỗ trợ hợp tác xã xây dựng kế hoạch mùa vụ, kết nối doanh nghiệp cung ứng vật tư và tiêu thụ sản phẩm, phát triển dịch vụ cơ giới hóa, thu gom phụ phẩm và tổ chức ghi chép dữ liệu sản xuất.

Đây là yêu cầu thực tế bởi canh tác lúa phát thải thấp không thể thực hiện hiệu quả nếu từng hộ làm riêng lẻ. Muốn giảm phát thải ở quy mô lớn, cần hình thành vùng sản xuất có sự thống nhất về quy trình, thời vụ, quản lý nước, vật tư và đầu ra sản phẩm.

Nhân rộng mô hình canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh
Bà Võ Thị Nhung, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Nghệ An

Đối với Nghệ An, riêng đối với lĩnh vực trồng trọt và sản xuất lúa, Nghệ An có diện tích đất sản xuất nông nghiệp khá lớn, với hơn 300.000 ha; trong đó diện tích đất trồng lúa duy trì hơn 90.000 ha, sản xuất 2 vụ lúa chính trong năm, cho sản lượng đạt trên 1,1 triệu tấn/năm.

Với diện tích sản xuất lớn, việc chuyển đổi phương thức canh tác theo hướng tiết kiệm đầu vào, giảm phát thải không chỉ có ý nghĩa về môi trường mà còn tác động trực tiếp đến chi phí và hiệu quả sản xuất của người dân.

Phát biểu tại diễn đàn, bà Võ Thị Nhung, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Nghệ An nhấn mạnh: Lúa được xác định là cây trồng chủ lực của tỉnh và được tỉnh Nghệ An quan tâm đẩy mạnh phát triển. Tỉnh có nhiều cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển sản xuất lúa gạo theo hướng tích tụ ruộng đất, sản xuất tập trung, ứng dụng cơ giới hóa đồng bộ, công nghệ cao và sản xuất theo tiêu chuẩn chất lượng cao, bền vững.

Bài liên quan

Nông dân Đô Lương đưa chủ trương của Đảng vào cuộc sống

Nông dân Đô Lương đưa chủ trương của Đảng vào cuộc sống

Chủ trương của Đảng muốn đi vào cuộc sống phải bắt đầu từ những việc làm cụ thể, đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng chính đáng của người dân. Với Hội Nông dân, điều đó càng có ý nghĩa thiết thực, khi đó nông dân không chỉ là đối tượng được tuyên truyền, vận động mà còn là lực lượng trực tiếp làm nên những đổi thay trong sản xuất, xây dựng nông thôn mới và phát triển quê hương.
Nghệ An ban hành quy chế mới về phối hợp công tác khuyến nông

Nghệ An ban hành quy chế mới về phối hợp công tác khuyến nông

UBND tỉnh Nghệ An vừa ban hành Quyết định số 1842/QĐ-UBND về Quy chế phối hợp thực hiện công tác khuyến nông trên địa bàn tỉnh. Quy chế do Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Đệ ký ngày 6/5/2026, nhằm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời huy động đồng bộ các nguồn lực phục vụ phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững, hiện đại.
Ngày bầu cử sớm của đồng bào Huồi Tụ

Ngày bầu cử sớm của đồng bào Huồi Tụ

Sáng 13/3, khi sương vẫn còn phủ kín những triền núi vùng biên, đồng bào xã Huồi Tụ (Nghệ An) đã bắt đầu bỏ những lá phiếu đầu tiên trong đợt bầu cử sớm.
Quảng Trị: Nâng cao hiệu quả hoạt động khuyến nông cơ sở trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp

Quảng Trị: Nâng cao hiệu quả hoạt động khuyến nông cơ sở trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp

Trong các ngày từ 9-10/3/2026, tại phường Đồng Hới, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị tổ chức chuỗi hoạt động hội nghị tập huấn nội dung “Bàn giải pháp nâng cao hiệu quả công tác khuyến nông cơ sở trong mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp”
Nghệ An đẩy mạnh triển khai 3 Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026–2035

Nghệ An đẩy mạnh triển khai 3 Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026–2035

UBND tỉnh Nghệ An đang khẩn trương triển khai 3 Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026–2035, gồm: xây dựng nông thôn mới; giảm nghèo bền vững; phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Tạp chí Hữu cơ Việt Nam tổ chức trao tặng quà tết cho gia đình hoàn cảnh khó khăn tại Nghệ  An

Tạp chí Hữu cơ Việt Nam tổ chức trao tặng quà tết cho gia đình hoàn cảnh khó khăn tại Nghệ An

Từ sự đồng cảm của bạn đọc trước một hoàn cảnh khó khăn ở vùng giáp biên Nghệ An, Tạp chí Hữu cơ Việt Nam đã kết nối các nhà hảo tâm, mạnh thường quân cùng chung tay sẻ chia, lan tỏa tinh thần “lá lành đùm lá rách”, để thêm nhiều người yếu thế có một cái Tết ấm áp hơn.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Kết nối nghiên cứu ứng dụng cơ giới hóa thông minh và công nghệ xanh, nâng cao giá trị nông sản

Kết nối nghiên cứu ứng dụng cơ giới hóa thông minh và công nghệ xanh, nâng cao giá trị nông sản

ĐH Nông Lâm, ĐH Huế kết nối nghiên cứu ứng dụng, cơ giới hóa thông minh và công nghệ xanh, nâng cao giá trị nông sản, sử dụng hiệu quả tài nguyên...
Đưa khoa học nông nghiệp từ phòng thí nghiệm ra đồng ruộng

Đưa khoa học nông nghiệp từ phòng thí nghiệm ra đồng ruộng

Từ kết quả nghiên cứu đến ứng dụng trong sản xuất vẫn còn khoảng cách đáng kể. Thu hẹp khoảng cách ấy không chỉ đòi hỏi công nghệ tiên tiến, mà còn cần cơ chế phù hợp, sự tham gia của doanh nghiệp và người nông dân, cùng những giải pháp bảo đảm hiệu quả kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Làm thế nào khơi thông nguồn lực để phát triển nông nghiệp?

Làm thế nào khơi thông nguồn lực để phát triển nông nghiệp?

Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn chuyển đổi quan trọng. Từ nền sản xuất dựa nhiều vào đất đai, lao động và kinh nghiệm truyền thống, ngành nông nghiệp đang từng bước chuyển sang mô hình dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, liên kết chuỗi và kinh tế xanh. Trong quá trình đó, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực trở thành yếu tố quyết định để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam.
Ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất nông nghiệp hữu cơ và giải pháp phát triển bền vững

Ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất nông nghiệp hữu cơ và giải pháp phát triển bền vững

Nông nghiệp hữu cơ đối mặt nhiều thách thức về chi phí giám sát, rủi ro dịch bệnh và tính minh bạch. Việc ứng dụng công nghệ số như IoT, AI, Blockchain, Big Data và UAV tạo ra bước ngoặt giúp tối ưu hóa quản lý, kiểm soát tiêu chuẩn nghiêm ngặt và công khai chuỗi giá trị. Bài viết phân tích thực trạng, hạ tầng công nghệ, tác động kinh tế - sinh thái, rào cản cốt lõi và đề xuất giải pháp phát triển bền vững.
Nước tưới hoạt hóa bằng khoáng chất và ánh sáng mặt trời giúp năng suất cây trồng tăng tới hơn 100%

Nước tưới hoạt hóa bằng khoáng chất và ánh sáng mặt trời giúp năng suất cây trồng tăng tới hơn 100%

Các thử nghiệm đồng ruộng quy mô lớn trải dài từ Hắc Long Giang đến Hải Nam cho thấy nước tưới được xử lý bằng khoáng chất tự nhiên hoạt hóa dưới ánh nắng có thể nâng năng suất lúa tới 40,6%, mía 45,7% và khoai lang 109,5%, theo nhóm nhà khoa học thuộc Đại học Bắc Kinh.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 3: Từ nhận thức đến hành động

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 3: Từ nhận thức đến hành động

Chuyển đổi hệ thống lương thực – thực phẩm không thể thành công nếu chỉ trông chờ vào một chính sách, một ngành, một doanh nghiệp hay một nhóm người. Việt Nam đã có Kế hoạch hành động quốc gia theo Quyết định 300/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhưng trong quá trình thực hiện vẫn gặp những khó khăn về nguồn lực, hướng dẫn, dữ liệu và năng lực của các bên. Điều quan trọng lúc này là biến mục tiêu lớn thành những việc cụ thể, để Nhà nước, địa phương, người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học, truyền thông và người tiêu dùng cùng tạo ra thay đổi. Chuyển đổi chỉ thực sự xảy ra khi mỗi mắt xích nhận rõ trách nhiệm và cùng hành động.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 2: Từ cánh đồng đến thị trường

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 2: Từ cánh đồng đến thị trường

Một nền nông nghiệp có thể tạo ra hàng triệu tấn lương thực, thực phẩm mỗi năm nhưng vẫn còn những điểm nghẽn trên hành trình từ cánh đồng đến bàn ăn. Người sản xuất có thể làm ra sản phẩm nhưng chưa chắc có thị trường ổn định, doanh nghiệp có thể có đơn hàng nhưng chưa chắc có vùng nguyên liệu bền vững, sản phẩm có chất lượng nhưng vẫn có thể mất giá trị nếu bảo quản, chế biến và logistics chưa đáp ứng. Vì vậy, bài toán của hệ thống lương thực - thực phẩm không chỉ là “sản xuất được bao nhiêu”, mà còn là sản xuất như thế nào, kết nối ra sao và giá trị được tạo ra, phân bổ như thế nào trong toàn chuỗi.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 1: Từ bàn ăn nhìn ra cả hệ thống

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 1: Từ bàn ăn nhìn ra cả hệ thống

Mỗi ngày, một bữa cơm gia đình bắt đầu từ những điều rất quen thuộc: Hạt gạo, bó rau, con cá, quả trứng hay miếng thịt. Nhưng để những thực phẩm ấy xuất hiện trên bàn ăn là cả một hành trình dài, với sự tham gia của người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học, cơ quan quản lý, hệ thống phân phối và chính người tiêu dùng. Phía sau mỗi món ăn còn là đất, nước, lao động, công nghệ, thị trường, chính sách và môi trường. Hiểu được hành trình ấy chính là bước đầu tiên để mỗi người nhận ra mình đang ở đâu và có thể làm gì để cùng xây dựng một hệ thống lương thực - thực phẩm minh bạch, trách nhiệm và bền vững.
Khả năng hấp thụ carbon của hệ thống nông nghiệp hữu cơ

Khả năng hấp thụ carbon của hệ thống nông nghiệp hữu cơ

Nông nghiệp hữu cơ đang mở ra hướng tiếp cận mới trong ứng phó biến đổi khí hậu khi không chỉ giảm phụ thuộc vào vật tư hóa học mà còn góp phần gia tăng carbon trong đất. Thông qua đa dạng hóa cây trồng, sử dụng phân hữu cơ, cây che phủ, luân canh và giảm làm đất, hệ thống này có thể nâng cao khả năng lưu giữ carbon, cải thiện sức khỏe đất và phát triển nông nghiệp bền vững.
Phát triển nông nghiệp sinh thái: Từ mô hình riêng lẻ đến chuyển đổi cả hệ thống

Phát triển nông nghiệp sinh thái: Từ mô hình riêng lẻ đến chuyển đổi cả hệ thống

Chuyển đổi sang nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn cần được thực hiện đồng bộ từ tổ chức sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ đến liên kết thị trường và chia sẻ lợi ích. Tại hội thảo khoa học tổ chức ngày 30/9 ở Ninh Bình, các nhà quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và hợp tác xã nhấn mạnh yêu cầu để người nông dân được hưởng lợi xứng đáng từ những giá trị sinh thái mà họ tạo ra.
AOLC 2026: Lan tỏa những sáng kiến nông nghiệp sinh thái và hữu cơ

AOLC 2026: Lan tỏa những sáng kiến nông nghiệp sinh thái và hữu cơ

Ngày 30/9, tại Hà Nội, Khóa tập huấn Lãnh đạo Nông nghiệp Sinh thái và Hữu cơ năm 2026 (AOLC 2026) chính thức bế mạc, ghi nhận 27 học viên hoàn thành chương trình và vinh danh bốn đề án phát triển tiêu biểu. Từ những sáng kiến về thực phẩm học đường, sinh kế cộng đồng đến kết nối thị trường, khóa học mở ra kỳ vọng lan tỏa các thực hành nông nghiệp sinh thái, hữu cơ vào đời sống.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ

Quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ không chỉ chịu tác động bởi nhận thức về sức khỏe và an toàn thực phẩm mà còn liên quan đến giá cả, chất lượng, niềm tin, kiến thức, khả năng tiếp cận và các chuẩn mực xã hội. Việc nhận diện đầy đủ những yếu tố này có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng chính sách, phát triển thị trường và thúc đẩy tiêu dùng thực phẩm hữu cơ bền vững tại Việt Nam.
XEM THÊM
phu-my
cuoc-thi-viet
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính