![]() |
| Các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất đang tạo thêm nguồn lực để đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Lâm Đồng từng bước nâng cao thu nhập, ổn định sinh kế và phát triển nông nghiệp bền vững |
Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Lâm Đồng vừa có Văn bản số 1796/TTBVTV-HCTH gửi Chi cục Phát triển nông thôn về việc rà soát chính sách thực hiện trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, sau sắp xếp, tỉnh Lâm Đồng có diện tích tự nhiên 24.233,07 km² với 124 xã, phường và đặc khu; 2.773 thôn, tổ dân phố. Trong đó, có 2.311 thôn, tổ dân phố thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Toàn tỉnh hiện có quy mô dân số 3.872.999 người, với 49 trong tổng số 54 dân tộc cùng sinh sống. Số người là đồng bào dân tộc thiểu số hơn 683.000 người, chiếm 17,6% dân số toàn tỉnh.
Lâm Đồng hiện có 100 xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, gồm 30 xã khu vực I, 41 xã khu vực II và 29 xã khu vực III - là những xã đặc biệt khó khăn. Bên cạnh đó, toàn tỉnh có 218 thôn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn.
Trong những năm qua, kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh đã có những chuyển biến đáng chú ý. Nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò chủ lực, song phương thức sản xuất từng bước chuyển dịch từ tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa tập trung, gắn với việc ứng dụng khoa học, công nghệ và các mô hình sản xuất có hiệu quả.
Kết quả rà soát cho thấy, nhiều chính sách của Trung ương đang được triển khai nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trong đó có các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, hỗ trợ bảo vệ và phát triển rừng, phát triển lâm sản ngoài gỗ, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, đào tạo nghề và xây dựng sinh kế bền vững.
Đáng chú ý, theo Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, tổng ngân sách Trung ương dự kiến bố trí cho giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 100.000 tỷ đồng.
Đối với các dự án liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, chính sách hướng đến việc hỗ trợ giống, vật tư, chuyển giao kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm, tạo điều kiện để doanh nghiệp, hợp tác xã liên kết với người dân, trong đó ưu tiên các dự án có tỷ lệ cao hộ nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số tham gia.
Các chính sách về bảo vệ và phát triển rừng cũng tiếp tục được xác định là một trong những nguồn lực quan trọng đối với vùng miền núi. Nội dung hỗ trợ bao gồm khoán bảo vệ rừng, trồng rừng sản xuất, phát triển lâm sản ngoài gỗ và hỗ trợ lương thực đối với một số nhóm hộ thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, phát triển rừng theo quy định.
Cùng với chính sách của Trung ương, tỉnh Lâm Đồng đã ban hành và triển khai nhiều cơ chế hỗ trợ phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
Trong đó, Nghị quyết số 87/2025/NQ-HĐND ngày 30/12/2025 quy định chính sách hỗ trợ về đất đai, bao gồm giao đất ở, giao đất nông nghiệp và cho thuê đất phi nông nghiệp phục vụ sản xuất, kinh doanh đối với các đối tượng thụ hưởng theo quy định.
Tỉnh cũng triển khai cơ chế hỗ trợ hoàn thành các mục tiêu xây dựng nông thôn mới, đầu tư các công trình phúc lợi và hạ tầng phục vụ đời sống, sản xuất tại các xã và thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Theo Nghị quyết số 23/2026/NQ-HĐND ngày 29/5/2026, mức hỗ trợ đối với xã đạt chuẩn là 1 tỷ đồng, xã đạt chuẩn hiện đại 2 tỷ đồng và thôn đạt chuẩn 200 triệu đồng theo các nội dung được quy định.
Một trong những nội dung đáng chú ý là Nghị quyết số 52/2026/NQ-HĐND ngày 24/9/2026, quy định mức hỗ trợ đối với các dự án phát triển sản xuất thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn tỉnh.
Đối với dự án liên kết theo chuỗi giá trị, mức hỗ trợ tối đa từ ngân sách nhà nước được xác định theo từng khu vực, trong đó xã khu vực III có thể được hỗ trợ tối đa 80% tổng mức đầu tư của dự án, xã khu vực II 70%, xã khu vực I 60% và các xã còn lại 50%, với mức hỗ trợ không vượt quá quy định đối với từng loại dự án.
Đối với các dự án phát triển sản xuất của cộng đồng, mức hỗ trợ tại các địa bàn đặc biệt khó khăn có thể lên đến 85% tổng mức đầu tư theo quy định, qua đó tạo thêm nguồn lực để người dân, cộng đồng dân cư tổ chức sản xuất, phát triển sinh kế và từng bước giảm nghèo bền vững.
Theo kết quả đánh giá của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, việc triển khai các chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thời gian qua đã tạo những chuyển biến tích cực.
Cơ sở hạ tầng khu vực nông thôn từng bước được cải thiện, diện mạo nhiều vùng nông thôn, miền núi có sự khởi sắc. Thu nhập bình quân đầu người được ghi nhận tăng 54,4% so với cùng kỳ năm 2021.
Cùng với đó, hệ thống văn bản chỉ đạo, điều hành và hướng dẫn thực hiện các chương trình của Trung ương đã được địa phương kịp thời cụ thể hóa thành các quy định, kế hoạch phù hợp với điều kiện thực tế.
Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số từng bước được cải thiện. Công tác giảm nghèo, đầu tư hạ tầng kinh tế - xã hội tại các xã, thôn đặc biệt khó khăn có những chuyển biến rõ nét. Nhiều dự án hỗ trợ sinh kế và giải quyết việc làm đã được triển khai, góp phần tạo thêm cơ hội sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân.
Đáng chú ý, trên địa bàn tỉnh hiện đang xây dựng Dự thảo Nghị quyết của HĐND tỉnh về chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển sản xuất vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2030.
Theo nội dung dự thảo được rà soát, chính sách dự kiến hỗ trợ một số chi phí cụ thể phục vụ hoạt động sản xuất của hộ đồng bào dân tộc thiểu số, từ chi phí bốc xếp, bao bì, cày đất đến hỗ trợ chi phí đi lại khi tham gia các lớp tập huấn.
Việc tiếp tục rà soát, hoàn thiện và tổ chức thực hiện các chính sách được kỳ vọng sẽ tạo thêm nguồn lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của Lâm Đồng, nhất là trong phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng sinh kế ổn định và giảm nghèo bền vững.
Từ những chính sách hỗ trợ về đất đai, hạ tầng, phát triển sản xuất đến đào tạo nghề, chuyển giao kỹ thuật và liên kết tiêu thụ sản phẩm, mục tiêu đặt ra không chỉ là hỗ trợ trước mắt mà còn hướng tới nâng cao năng lực sản xuất, tạo sinh kế lâu dài và giúp người dân chủ động vươn lên từ chính tiềm năng của địa phương./.