![]() |
| Tăng cường thu gom, xử lý bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng, tận dụng phụ phẩm cây trồng và áp dụng quy trình canh tác an toàn là những giải pháp Lâm Đồng hướng tới nhằm phát triển nông nghiệp xanh, giảm ô nhiễm môi trường |
Theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Lâm Đồng, trong năm 2026, đơn vị đã triển khai nhiều nhiệm vụ liên quan đến bảo vệ môi trường, giảm phát thải trong trồng trọt, phát triển sản xuất nông nghiệp an toàn và tận dụng phụ phẩm theo hướng tuần hoàn. Các hoạt động được thực hiện trong khuôn khổ triển khai Nghị quyết số 99/NQ-CP ngày 3/10/2017 của Chính phủ.
Một trong những nội dung được chú trọng là thu gom, xử lý bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng và tận dụng phụ phẩm cây trồng, nhằm hạn chế nguy cơ ô nhiễm môi trường từ hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Trong năm 2026, Chi cục đã tổ chức 14 lớp tập huấn, hướng dẫn thu gom, xử lý bao gói thuốc bảo vệ thực vật và phụ phẩm nông nghiệp cho cán bộ quản lý, các hội, tổ chức và nông dân tại các xã, phường trong tỉnh.
Theo số liệu lũy kế đến tháng 6/2026, toàn tỉnh có 23 kho lưu chứa tạm thời và 4.810 bể thu gom bao gói thuốc bảo vệ thực vật, trong đó có 3.000 bể đang được sử dụng. Khối lượng bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng được thu gom, xử lý đúng quy định khoảng 45,6 tấn trên tổng lượng phát sinh 127,5 tấn, tương đương 35,8%.
Tỷ lệ này cho thấy lượng bao gói thuốc bảo vệ thực vật được thu gom, xử lý đúng quy định vẫn còn hạn chế so với tổng lượng phát sinh. Nếu không được thu gom và xử lý phù hợp, các loại chất thải này có nguy cơ phát tán hóa chất ra đất, nguồn nước và môi trường xung quanh, ảnh hưởng đến hệ sinh thái cũng như sức khỏe cộng đồng.
Trong khi đó, phụ phẩm cây trồng phát sinh trên địa bàn tỉnh ước khoảng 2,51 triệu tấn; khối lượng được thu gom đạt khoảng 1,79 triệu tấn, tương đương 71,3%. Đây là nguồn nguyên liệu có thể tiếp tục khai thác để sản xuất phân bón hữu cơ, làm giá thể hoặc phục vụ các mô hình sản xuất tuần hoàn, thay vì trở thành chất thải cần xử lý.
Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cho biết, đơn vị thường xuyên tuyên truyền, hướng dẫn người dân tận dụng vỏ cà phê, thân lá ngô, rơm rạ và phụ phẩm sau thu hoạch sầu riêng để ủ phân bón hữu cơ vi sinh tại chỗ, làm đệm lót sinh học hoặc giá thể trồng nấm. Việc tái sử dụng nguồn phụ phẩm này góp phần giảm lượng chất thải, hạn chế phụ thuộc vào phân bón hóa học và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên trong sản xuất.
Cùng với quản lý chất thải, ngành trồng trọt tiếp tục triển khai chương trình quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM), hướng đến giảm sử dụng hóa chất trong phòng trừ sinh vật gây hại. Trong năm 2026, Chi cục đã tổ chức hai lớp huấn luyện nông dân về IPHM trên cây cà phê và ba lớp tập huấn hướng dẫn viên cộng đồng về IPHM trên cây cà phê, cây lúa tại một số xã trọng điểm. Bốn mô hình quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp cũng được triển khai, gồm một mô hình trên cây trồng, một mô hình trên thanh long và hai mô hình trên cà phê.
Theo đánh giá của đơn vị, việc áp dụng IPHM góp phần hạn chế sử dụng hóa chất trong sản xuất, bảo vệ môi trường sinh thái, sức khỏe người dân và nâng cao chất lượng nông sản. Tuy nhiên, hiệu quả lâu dài còn phụ thuộc vào khả năng duy trì quy trình kỹ thuật của người sản xuất và mức độ nhân rộng mô hình tại các vùng canh tác.
Ở lĩnh vực cơ cấu cây trồng, đến tháng 9/2026, tổng diện tích chuyển đổi, trồng mới trên địa bàn tỉnh đạt khoảng 4.547 ha. Trong đó, diện tích chuyển đổi cây trồng trên đất lúa là 2.283 ha; diện tích trồng mới, chuyển đổi các loại cây trồng khác khoảng 2.264 ha.
Việc chuyển đổi được định hướng gắn với lựa chọn cây trồng có giá trị kinh tế cao, đồng thời chú trọng các giải pháp bảo vệ đất, chống xói mòn và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây là yêu cầu quan trọng đối với những khu vực có địa hình dốc hoặc chịu tác động rõ nét của thời tiết cực đoan, nơi lựa chọn cây trồng và phương thức canh tác có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng giữ đất, giữ nước và tính bền vững của hệ thống sản xuất.
Trong phát triển nông nghiệp an toàn, Lâm Đồng tiếp tục cấp, quản lý và giám sát mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Theo báo cáo, toàn tỉnh đã cấp 1.640 mã số vùng trồng với tổng diện tích 54.550,7 ha và 549 mã số cơ sở đóng gói, có tổng diện tích nhà xưởng 904.138 m².
Trong số các mã số vùng trồng, có 290 mã số phục vụ tiêu thụ trong nước, diện tích 2.844,7 ha; 1.094 mã số xuất khẩu đã được nước nhập khẩu phê duyệt, với tổng diện tích 48.016,96 ha. Đối với cơ sở đóng gói, có 453 mã số được nước nhập khẩu phê duyệt, với tổng diện tích nhà xưởng 709.849 m². Ngoài ra, đơn vị còn ghi nhận các mã số vùng trồng phục vụ sản xuất hạt giống và cây giống xuất khẩu, đồng thời tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp mới để tổng hợp, gửi cơ quan có thẩm quyền và nước nhập khẩu xem xét.
Song song với việc quản lý mã số vùng trồng, ngành chức năng phối hợp hướng dẫn người dân áp dụng các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP và sản xuất hữu cơ. Đây là những hướng đi giúp nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc, kiểm soát quy trình sản xuất và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Tuy nhiên, việc cấp mã số cần đi đôi với giám sát thực chất, bảo đảm người sản xuất duy trì đúng quy trình và đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu.
Dù đạt một số kết quả, báo cáo cũng chỉ ra những hạn chế đáng chú ý. Hệ thống bể thu gom bao gói thuốc bảo vệ thực vật tại một số địa phương chưa đồng bộ, trong khi kinh phí vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại trong nông nghiệp còn hạn chế. Sản xuất vẫn nhỏ lẻ, manh mún, khiến việc áp dụng đồng bộ IPHM, VietGAP và các quy trình tuần hoàn ở quy mô lớn gặp khó khăn. Một bộ phận người sản xuất còn có thói quen lạm dụng phân bón vô cơ, thuốc bảo vệ thực vật hóa học; việc ghi chép nhật ký sản xuất và tuân thủ quy định về mã số vùng trồng chưa đồng đều.
Trước thực tế này, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật kiến nghị ưu tiên nguồn vốn cho các chương trình khuyến nông về nông nghiệp tuần hoàn, tăng trưởng xanh, nhân rộng mô hình IPHM và quản lý mã số vùng trồng. Đồng thời, cần tăng cường phối hợp giữa ngành nông nghiệp và chính quyền cơ sở trong tuyên truyền bảo vệ môi trường, thu gom chất thải đúng quy định và tận dụng phụ phẩm làm phân bón hữu cơ.
Đơn vị cũng đề xuất đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra thị trường vật tư nông nghiệp, xử lý vi phạm liên quan đến kinh doanh, sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật kém chất lượng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng; tiếp tục hỗ trợ hợp tác xã, doanh nghiệp và tổ hợp tác xây dựng mô hình sản xuất tuần hoàn, giảm phát thải gắn với mã số vùng trồng xuất khẩu.
Những nhiệm vụ này cho thấy chuyển đổi sang nông nghiệp xanh không chỉ nằm ở việc thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn cần hạ tầng thu gom, xử lý chất thải, nguồn lực đầu tư và sự tuân thủ của người sản xuất. Khi phụ phẩm được tái sử dụng hiệu quả, hóa chất được kiểm soát và quy trình sản xuất được giám sát chặt chẽ, nông nghiệp Lâm Đồng sẽ có thêm điều kiện để nâng cao giá trị nông sản, bảo vệ đất, nước và môi trường sinh thái, đồng thời hướng tới sinh kế bền vững cho người dân./.