ki-niem-15-voaa
Thứ tư 19/08/2026 12:09Thứ tư 19/08/2026 12:09 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Chuyển giao V-Standard, mở rộng cơ hội thị trường cho nông sản Việt

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Nền tảng V-Standard ứng dụng trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ quản lý tiêu chuẩn, số hóa hồ sơ chứng nhận và truy xuất nguồn gốc nông sản vừa được Đại học Griffith (Australia) chuyển giao cho Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia. Không chỉ rút ngắn quy trình đánh giá, nền tảng còn mở ra khả năng giúp nông hộ nhỏ, hợp tác xã chứng minh chất lượng bằng dữ liệu và tiếp cận những thị trường có yêu cầu cao.
Chuyển giao V-Standard, mở rộng cơ hội thị trường cho nông sản Việt
Toàn cảnh Hội thảo “Mở rộng cơ hội thị trường cho nông sản Việt Nam thông qua ứng dụng nền tảng số và AI trong chứng nhận, truy xuất nguồn gốc”.

Sáng 17/7, tại Hà Nội, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia phối hợp với Đại học Griffith tổ chức Hội thảo quốc tế “Mở rộng cơ hội thị trường cho nông sản Việt Nam thông qua ứng dụng nền tảng số và AI trong chứng nhận, truy xuất nguồn gốc”.

Tham dự hội thảo có Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định; bà Renée Deschamps, Đại biện lâm thời Đại sứ quán Australia tại Việt Nam; ông Trần Đăng Khoa, Phó Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia; bà Andrea Saso Pintos, Giám đốc Chương trình Aus4Innovation; cùng đại diện các cơ quan quản lý, tổ chức quốc tế, tổ chức chứng nhận, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và hợp tác xã.

Nghi thức chuyển giao nền tảng V-Standard từ Đại học Griffith (Australia) cho Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia.
Nghi thức chuyển giao nền tảng V-Standard từ Đại học Griffith (Australia) cho Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia.

Điểm nhấn của sự kiện là nghi thức chuyển giao nền tảng V-Standard từ Đại học Griffith cho Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia. Đây là kết quả của dự án “Trao quyền cho nông dân sản xuất nhỏ thông qua chứng nhận và khả năng truy xuất nguồn gốc bằng AI cho nền nông nghiệp bền vững tại Việt Nam”, được triển khai trong khuôn khổ Chương trình Aus4Innovation.

Aus4Innovation là chương trình hợp tác đổi mới sáng tạo do Bộ Ngoại giao và Thương mại Australia tài trợ, được đồng tài trợ và quản lý bởi Cơ quan Khoa học Quốc gia Australia (CSIRO), triển khai trong quan hệ đối tác chiến lược với Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định cho rằng năng lực cạnh tranh của nông sản không chỉ được quyết định bởi chất lượng sản phẩm mà còn bởi khả năng chứng minh chất lượng thông qua dữ liệu, tiêu chuẩn và sự minh bạch.
Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định cho rằng, năng lực cạnh tranh của nông sản không chỉ được quyết định bởi chất lượng sản phẩm mà còn bởi khả năng chứng minh chất lượng thông qua dữ liệu, tiêu chuẩn và sự minh bạch.

Phát biểu khai mạc, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định cho rằng chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang tạo ra những thay đổi sâu rộng đối với nông nghiệp. Công nghệ không chỉ góp phần nâng cao năng suất mà còn làm thay đổi cách quản lý, kiểm soát chất lượng và kết nối thị trường.

Trong bối cảnh thị trường ngày càng đòi hỏi tính minh bạch, khả năng truy xuất nguồn gốc và tuân thủ tiêu chuẩn, ứng dụng nền tảng số và trí tuệ nhân tạo vào chứng nhận trở thành xu hướng tất yếu. Với nông nghiệp Việt Nam, hướng đi này cần mang lại giá trị thiết thực: giúp nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn, giảm chi phí tuân thủ và tăng khả năng cạnh tranh.

“Trong kỷ nguyên số, năng lực cạnh tranh của nông sản không chỉ được quyết định bởi chất lượng sản phẩm mà còn bởi khả năng chứng minh chất lượng thông qua dữ liệu, tiêu chuẩn và sự minh bạch”, Thứ trưởng Lê Xuân Định nhấn mạnh.

Theo Thứ trưởng, việc chuyển giao V-Standard không đơn thuần là chuyển giao một nền tảng công nghệ mà còn là chuyển giao kết quả nghiên cứu, tri thức và kinh nghiệm hợp tác giữa các đối tác Việt Nam và Australia. Công nghệ phải trở thành công cụ để người nông dân sử dụng tốt hơn tài nguyên, tri thức bản địa và nâng cao sinh kế, thay vì tạo thêm một rào cản mới.

Bà Renée Deschamps, Đại biện lâm thời Đại sứ quán Australia tại Việt Nam, chia sẻ rằng doanh nghiệp và nông dân, chứ không phải công nghệ, cần được đặt ở trung tâm của quá trình đổi mới sáng tạo.
Bà Renée Deschamps, Đại biện lâm thời Đại sứ quán Australia tại Việt Nam chia sẻ, doanh nghiệp và nông dân chứ không phải công nghệ, cần được đặt ở trung tâm của quá trình đổi mới sáng tạo.

Từ phía Australia, bà Renée Deschamps nhận định dự án là một ví dụ cụ thể cho quan hệ hợp tác về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giữa hai nước. Bà đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc “doanh nghiệp và nông dân, chứ không phải công nghệ, được đặt ở trung tâm của đổi mới”.

Theo bà Renée Deschamps, V-Standard đã góp phần nâng cao năng lực số cho hợp tác xã và nông dân, cải thiện hiệu quả quản lý trang trại, tăng mức độ sẵn sàng cho chứng nhận và mở ra khả năng kết nối thị trường mới. Việc tích hợp trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm, minh bạch và có thể giải thích cũng giúp bảo đảm nền tảng phục vụ con người, thay vì thay thế vai trò của con người.

Một lần ghi nhận, phục vụ nhiều tiêu chuẩn

Trình bày về nền tảng V-Standard, Tiến sĩ Nguyễn Thành Tâm, đại diện Đại học Griffith cho biết, đằng sau thành tích xuất khẩu nông sản vẫn là khoảng cách lớn về khả năng tiếp cận dịch vụ hỗ trợ, chứng nhận và thị trường của các nông hộ quy mô nhỏ.

Muốn vào các thị trường có giá trị cao, người sản xuất phải đáp ứng nhiều bộ tiêu chuẩn khác nhau. Tuy nhiên, mỗi tiêu chuẩn lại có yêu cầu, biểu mẫu và quy trình hồ sơ riêng. Việc ghi chép thủ công khiến người dân mất nhiều thời gian chuẩn bị, dễ thiếu minh chứng hoặc phải bổ sung hồ sơ nhiều lần. Với những hộ nhỏ, chi phí và thời gian chứng nhận có thể trở thành rào cản khiến cơ hội thị trường bị chậm lại hoặc bỏ lỡ.

Một hạn chế khác là dữ liệu thường được ghi lại sau khi hoạt động sản xuất đã diễn ra. Khi phải nhớ lại thời điểm bón phân, sử dụng vật tư, thu hoạch hay bảo quản, thông tin có thể sai lệch và thiếu bằng chứng đi kèm. Điều này không chỉ gây khó cho người sản xuất mà còn làm tăng khối lượng kiểm tra của tổ chức chứng nhận.

TS Nguyễn Thành Tâm, đại diện Đại học Griffith, cho biết V-Standard cho phép dữ liệu sản xuất được ghi nhận một lần nhưng có thể đối chiếu với nhiều bộ tiêu chuẩn khác nhau.
TS Nguyễn Thành Tâm, đại diện Đại học Griffith cho biết, V-Standard cho phép dữ liệu sản xuất được ghi nhận một lần nhưng có thể đối chiếu với nhiều bộ tiêu chuẩn khác nhau.

V-Standard được phát triển trên cả nền tảng web và ứng dụng di động, hướng tới ba nhóm chức năng chính: quản lý tiêu chuẩn; kết nối nhà sản xuất, hợp tác xã và tổ chức chứng nhận; chuẩn hóa quy trình ghi nhận minh chứng, đánh giá và truy xuất nguồn gốc trên môi trường số.

Người dùng có thể khai báo trang trại, xác định lô đất trên bản đồ, tạo mùa vụ, lựa chọn bộ tiêu chuẩn áp dụng và ghi lại toàn bộ hoạt động từ gieo trồng, chăm sóc, sử dụng vật tư, thu hoạch đến chế biến, lưu kho, vận chuyển. Hình ảnh, hóa đơn, kết quả thử nghiệm đất, nước và sản phẩm được lưu cùng nhật ký để hình thành chuỗi minh chứng có thời gian, vị trí và người thực hiện rõ ràng.

Điểm đáng chú ý là dữ liệu chỉ cần được ghi nhận một lần nhưng có thể đối chiếu với nhiều bộ tiêu chuẩn như VietGAP, tiêu chuẩn hữu cơ Việt Nam, JAS của Nhật Bản hoặc tiêu chuẩn hữu cơ của Liên minh châu Âu. Khi muốn mở rộng sang một tiêu chuẩn khác, người sản xuất có thể tận dụng lại phần dữ liệu và tiêu chí tương đồng, thay vì lập lại toàn bộ hồ sơ từ đầu.

Để phù hợp với điều kiện sản xuất ở vùng sâu, vùng xa, ứng dụng cho phép ghi nhật ký khi không có kết nối Internet và tự động đồng bộ khi thiết bị có mạng. Nền tảng cũng hỗ trợ nhập liệu bằng giọng nói, hình ảnh, giúp những người lớn tuổi hoặc hạn chế khả năng đọc, viết có thể tham gia thuận lợi hơn.

AI hỗ trợ sàng lọc, con người quyết định chứng nhận

Trí tuệ nhân tạo trong V-Standard được sử dụng để rà soát dữ liệu, so sánh hoạt động sản xuất với yêu cầu của tiêu chuẩn và cảnh báo sớm nguy cơ không phù hợp. Chẳng hạn, hệ thống có thể lưu ý khi vật tư đầu vào chưa phù hợp với danh mục được phép sử dụng, thời gian cách ly chưa bảo đảm hoặc minh chứng còn thiếu.

Nhờ được cảnh báo ngay trong mùa vụ, người sản xuất có thể điều chỉnh quy trình trước khi lỗi trở thành một điểm không phù hợp tại thời điểm đánh giá. Cách tiếp cận này đưa việc tuân thủ tiêu chuẩn trở thành thói quen hằng ngày, thay vì chỉ tập trung hoàn thiện giấy tờ khi sắp đến kỳ chứng nhận.

Tuy nhiên, AI không thay thế chuyên gia. Hệ thống chỉ thực hiện đánh giá sơ bộ và giải thích tiêu chí nào đã đáp ứng, tiêu chí nào cần bổ sung. Quyết định cuối cùng về việc cấp chứng nhận vẫn thuộc về chuyên gia và tổ chức chứng nhận.

Bà Trần Thị Ngọc Anh, Trưởng phòng Chứng nhận hệ thống, Trung tâm Chứng nhận Phù hợp QUACERT, nhận định nền tảng số giúp hồ sơ chứng nhận đầy đủ, minh bạch hơn và giảm đáng kể thời gian rà soát của chuyên gia.
Bà Trần Thị Ngọc Anh, Trưởng phòng Chứng nhận hệ thống, Trung tâm Chứng nhận Phù hợp QUACERT nhận định, nền tảng số giúp hồ sơ chứng nhận đầy đủ, minh bạch hơn và giảm đáng kể thời gian rà soát của chuyên gia.

Từ góc độ đơn vị đánh giá, bà Trần Thị Ngọc Anh, Trưởng phòng Chứng nhận hệ thống thuộc Trung tâm Chứng nhận Phù hợp QUACERT cho biết, việc tiếp cận tiêu chuẩn là một thách thức lớn đối với nông dân. Một bộ tiêu chuẩn có thể bao gồm hàng chục yêu cầu liên quan đến đất, nước, vật tư đầu vào, an toàn thực phẩm, môi trường và điều kiện xã hội. Chỉ một lần sử dụng nhầm loại phân bón hoặc thuốc bảo vệ thực vật cũng có thể ảnh hưởng đến kết quả đánh giá.

Trong khi đó, thói quen ghi chép và lưu giữ hồ sơ giấy của nhiều hộ còn hạn chế. Với mô hình nhóm sản xuất gồm nhiều hộ ở cách xa nhau, việc quản lý, kiểm tra và tổng hợp minh chứng càng phức tạp. Chuyên gia có thể phải đi lại nhiều lần nhưng vẫn chưa đủ dữ liệu để xác nhận tính phù hợp.

Theo bà Trần Thị Ngọc Anh, nền tảng số giúp tổ chức chứng nhận tiếp nhận thông tin đầu vào thống nhất hơn, theo dõi thời điểm ghi nhật ký và kiểm tra minh chứng của từng hộ, từng lô đất trước khi đánh giá tại hiện trường. AI hỗ trợ sàng lọc hồ sơ để chuyên gia tập trung vào những nội dung cần năng lực chuyên môn và phán đoán của con người.

Kết quả thử nghiệm được công bố tại hội thảo cho thấy việc số hóa hồ sơ và hỗ trợ đánh giá sơ bộ có thể giúp giảm tới 40% thời lượng đánh giá chứng nhận. Quan trọng hơn, dữ liệu được lưu vết và quản lý tập trung giúp hoạt động thẩm tra sau chứng nhận thuận lợi, minh bạch hơn.

TS Hoàng Quốc Việt, đại diện Trung tâm Mã số Mã vạch Quốc gia, cho biết dữ liệu từ V-Standard có thể được chuyển tiếp qua GS1 Trace và đồng bộ với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia.
TS Hoàng Quốc Việt, đại diện Trung tâm Mã số Mã vạch Quốc gia cho biết, dữ liệu từ V-Standard có thể được chuyển tiếp qua GS1 Trace và đồng bộ với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia.

Nối dữ liệu từ thửa ruộng tới Cổng truy xuất nguồn gốc quốc gia

Giá trị của dữ liệu không dừng lại ở việc hoàn thiện hồ sơ chứng nhận. Để sản phẩm có thể được truy xuất trong toàn bộ chuỗi cung ứng, dữ liệu từ V-Standard còn được kết nối với ứng dụng GS1 Trace và Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia.

Tiến sĩ Hoàng Quốc Việt, đại diện Trung tâm Mã số Mã vạch Quốc gia chia sẻ, Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia chính thức vận hành từ tháng 10/2024. Khung pháp lý về truy xuất nguồn gốc tiếp tục được hoàn thiện, trong đó Nghị định số 37/2026/NĐ-CP quy định việc kết nối, chia sẻ dữ liệu đối với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao theo danh mục và lộ trình bắt buộc; đồng thời cho phép tổ chức, cá nhân chủ động đăng ký kết nối.

Theo số liệu được trình bày tại hội thảo, Cổng đã ghi nhận hơn 84.000 doanh nghiệp và khoảng 2,1 triệu mã sản phẩm được định danh. Tuy nhiên, dữ liệu chuỗi truy xuất được đồng bộ đầy đủ mới bao phủ hơn 5.500 loại sản phẩm. Khoảng cách này cho thấy dư địa rất lớn để các nền tảng, địa phương và doanh nghiệp tiếp tục chuẩn hóa, kết nối dữ liệu.

Trong mô hình được trình diễn, V-Standard ghi nhận chi tiết quá trình hình thành nguyên liệu tại trang trại: lô đất, mùa vụ, vật tư, hoạt động canh tác, thu hoạch và hồ sơ chứng nhận. GS1 Trace tiếp tục định danh sản phẩm, địa điểm và mở rộng chuỗi dữ liệu qua các khâu phơi, xay xát, chế biến, đóng gói và phân phối. Sau đó, dữ liệu được đồng bộ với Cổng thông tin quốc gia để người tiêu dùng, đối tác hoặc cơ quan quản lý tra cứu bằng mã QR và mã lô sản phẩm.

Quy trình này được minh họa trực tiếp với sản phẩm gạo nếp Tài của Hợp tác xã Yến Dương. Từ nhật ký canh tác trên V-Standard, thông tin được chuyển tiếp sang GS1 Trace, bổ sung các sự kiện sau thu hoạch rồi công bố trên Cổng thông tin quốc gia. Nhờ đó, truy xuất nguồn gốc không còn là một mã QR dẫn tới vài dòng giới thiệu, mà trở thành chuỗi dữ liệu có khả năng kiểm chứng từ vùng nguyên liệu đến sản phẩm thương mại.

Bà Ma Thị Ninh, Giám đốc Hợp tác xã Yến Dương, chia sẻ V-Standard phù hợp với phụ nữ vùng cao bởi người dùng có thể chụp ảnh và cập nhật hoạt động sản xuất trực tiếp bằng điện thoại.
Bà Ma Thị Ninh, Giám đốc Hợp tác xã Yến Dương chia sẻ, V-Standard phù hợp với phụ nữ vùng cao bởi người dùng có thể chụp ảnh và cập nhật hoạt động sản xuất trực tiếp bằng điện thoại.

Phụ nữ vùng cao bước vào chuỗi giá trị số

Nếu các bài trình bày kỹ thuật cho thấy nền tảng vận hành như thế nào, câu chuyện của Hợp tác xã Yến Dương cho thấy công nghệ có thể thay đổi vị thế của người sản xuất ra sao.

Hợp tác xã Yến Dương được thành lập năm 2018, hiện hoạt động tại xã Thượng Minh, tỉnh Thái Nguyên, với định hướng “Nông nghiệp sinh thái - Cộng đồng hạnh phúc”. Theo Giám đốc Hợp tác xã Ma Thị Ninh, từ 7 thành viên chính thức ban đầu, hợp tác xã đã phát triển lên 20 thành viên và xây dựng mạng lưới liên kết hàng trăm hộ sản xuất các sản phẩm chủ lực như bí xanh thơm, gạo nếp Tài, trà bí thơm và miến dong.

Thành viên của hợp tác xã chủ yếu là phụ nữ dân tộc thiểu số, trong đó có phụ nữ đơn thân và những người thuộc nhóm yếu thế. Bởi vậy, mục tiêu của hợp tác xã không chỉ là bán được nhiều nông sản hơn mà còn tạo cơ hội để phụ nữ học tập, nâng cao năng lực, có thu nhập và tham gia quyết định trong cộng đồng.

Những năm đầu, người dân sản xuất theo kinh nghiệm truyền thống, quản lý thủ công, khó kiểm soát quy trình và phụ thuộc nhiều vào thương lái. Việc ghi nhật ký là trở ngại rõ rệt. Có người không biết viết; có người phải đợi đến tối nhờ con cháu ghi lại công việc trong ngày. Sau đó, cán bộ hợp tác xã tiếp tục chép lại vào sổ chung để lưu hồ sơ. Quá trình nhiều tầng nấc khiến thông tin chậm, thiếu chi tiết và có nguy cơ sai lệch.

Trong khi khả năng ghi chép còn hạn chế, điện thoại thông minh lại khá quen thuộc với bà con. Bà Ma Thị Ninh cho biết khoảng 95% phụ nữ trong nhóm sử dụng Facebook và điện thoại thành thạo. Với V-Standard, họ có thể chụp ảnh công việc ngoài đồng, ghi nhận trực tiếp theo từng hộ, từng lô đất và từng mùa vụ. Mỗi minh chứng được đưa lên hệ thống ngay tại thời điểm thực hiện, thay vì phải nhớ lại vào cuối ngày hoặc cuối vụ.

“Bà con rất ngại ghi chép, thậm chí có người không thể ghi chép. Nhưng phần mềm này phù hợp vì các cô có thể chụp ảnh và cập nhật trực tiếp bằng điện thoại”, bà Ma Thị Ninh chia sẻ.

Việc minh bạch dữ liệu cũng giúp hợp tác xã quản lý vùng nguyên liệu chặt chẽ hơn. Từ mạng lưới hơn 500 hộ liên kết trước đây, đơn vị đã rà soát, lựa chọn khoảng 300 hộ có quy mô và quy trình phù hợp với yêu cầu chứng nhận, chất lượng. Với Hợp tác xã Yến Dương, sàng lọc không nhằm thu hẹp cộng đồng mà để bảo vệ uy tín chung: sản phẩm đưa tới khách hàng phải đáp ứng tiêu chuẩn một cách thực chất, không chỉ dừng ở lời giới thiệu.

Những mã truy xuất trên gạo nếp Tài, trà bí thơm và các sản phẩm của hợp tác xã vì thế trở thành bằng chứng cho toàn bộ hành trình sản xuất. Người mua có thể biết sản phẩm đến từ hộ nào, sử dụng giống gì, được canh tác ở đâu và ghi nhận theo quy trình ra sao. Đây là cơ sở để hợp tác xã từng bước rời cách bán hàng nhỏ lẻ, mở rộng tới các cửa hàng thực phẩm, kênh thương mại điện tử và những đối tác có yêu cầu cao hơn về chất lượng.

Theo bà Ma Thị Ninh, dù nền tảng có thể phát sinh chi phí trong tương lai, hợp tác xã vẫn mong muốn tiếp tục sử dụng vì tính phù hợp với người dân và giá trị minh bạch mà công cụ mang lại. Cam kết này cũng cho thấy một điều quan trọng: chỉ khi người sử dụng nhìn thấy lợi ích và sẵn sàng duy trì, nền tảng số mới có cơ hội tồn tại sau giai đoạn dự án.

Bà Andrea Saso Pintos, Giám đốc Chương trình Aus4Innovation, nhận định lễ chuyển giao V-Standard không phải là điểm kết thúc mà là khởi đầu cho một giai đoạn mới do các cơ quan Việt Nam dẫn dắt.
Bà Andrea Saso Pintos, Giám đốc Chương trình Aus4Innovation nhận định, lễ chuyển giao V-Standard không phải là điểm kết thúc mà là khởi đầu cho một giai đoạn mới do các cơ quan Việt Nam dẫn dắt.

Chuyển giao không phải là điểm kết thúc

Phát biểu tại hội thảo, bà Andrea Saso Pintos, Giám đốc Chương trình Aus4Innovation, cho rằng thành công của một dự án đổi mới sáng tạo không chỉ được đo bằng những gì diễn ra trong thời gian triển khai, mà quan trọng hơn là khả năng tiếp tục phát triển sau khi dự án kết thúc.

Theo bà, việc bàn giao V-Standard không mang ý nghĩa tượng trưng. Đây là quá trình chuyển giao tri thức, năng lực và trách nhiệm cho các cơ quan Việt Nam để tiếp tục duy trì, mở rộng và hoàn thiện nền tảng. Lễ chuyển giao vì thế không phải điểm kết thúc mà là khởi đầu cho một giai đoạn mới do các đơn vị trong nước dẫn dắt.

Ông Trần Đăng Khoa, Phó Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia, cho biết đơn vị sẽ tiếp tục hoàn thiện, mở rộng V-Standard và tăng cường kết nối với các hệ thống truy xuất nguồn gốc quốc gia.
Ông Trần Đăng Khoa, Phó Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia cho biết, đơn vị sẽ tiếp tục hoàn thiện, mở rộng V-Standard và tăng cường kết nối với các hệ thống truy xuất nguồn gốc quốc gia.

Tổng kết hội thảo, ông Trần Đăng Khoa, Phó Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia khẳng định, đơn vị sẽ tiếp tục phối hợp với các đối tác trong nước và quốc tế để phát huy kết quả dự án; từng bước đưa V-Standard đến nhiều tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân; đồng thời tăng cường kết nối với các hệ thống truy xuất nguồn gốc và hạ tầng dữ liệu trong hệ sinh thái hạ tầng chất lượng quốc gia.

Mục tiêu được đặt ra là nền tảng không dừng ở những mô hình thí điểm mà phải được đưa vào thực tiễn rộng rãi, hỗ trợ hoạt động đánh giá sự phù hợp và nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Từ những cuốn nhật ký giấy dễ thất lạc đến dữ liệu được ghi nhận theo thời gian thực; từ hồ sơ chứng nhận rời rạc đến khả năng đối chiếu nhiều tiêu chuẩn trên một nền tảng; từ thửa ruộng vùng cao đến Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc quốc gia, V-Standard đang mở ra một cách tiếp cận mới đối với chất lượng nông sản. Tuy nhiên, giá trị lâu dài của nền tảng sẽ phụ thuộc vào việc tiếp tục cập nhật tiêu chuẩn, đào tạo người dùng, bảo vệ dữ liệu, duy trì kết nối và xây dựng mô hình vận hành bền vững.

Khi những điều kiện đó được bảo đảm, công nghệ không chỉ giúp nông sản có thêm một mã QR. Quan trọng hơn, nó giúp người sản xuất nhỏ có bằng chứng để bảo vệ chất lượng, tạo dựng niềm tin và bước vào thị trường bằng chính dữ liệu của mình.

Bài liên quan

Đắk Lắk triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc sầu riêng, nâng cao giá trị ngành hàng

Đắk Lắk triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc sầu riêng, nâng cao giá trị ngành hàng

Sáng 17/7/2026, UBND xã Quảng Phú (tỉnh Đắk Lắk) tổ chức Hội nghị triển khai xây dựng hệ thống phần mềm truy xuất nguồn gốc sầu riêng trên địa bàn. Đây là bước đi quan trọng nhằm minh bạch hóa sản xuất, nâng cao chất lượng nông sản và đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh ngành sầu riêng Việt Nam đang tăng trưởng mạnh mẽ nhưng đối mặt với nhiều rào cản kỹ thuật.
Điều gì tạo nên mức giá gấp nhiều lần của cùng một loại nông sản?

Điều gì tạo nên mức giá gấp nhiều lần của cùng một loại nông sản?

Cùng giống sầu riêng Ri6 hay bơ nhưng giá bán có thể chênh lệch hàng chục lần do khác biệt về chất lượng, quy trình sản xuất, tiêu chuẩn an toàn và thương hiệu.
Thêm nhiều doanh nghiệp thịt Hoa Kỳ tham gia nhãn Product of USA

Thêm nhiều doanh nghiệp thịt Hoa Kỳ tham gia nhãn Product of USA

Ngày càng nhiều doanh nghiệp chế biến thịt tại Hoa Kỳ tham gia chương trình dán nhãn Product of USA do Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) triển khai. Quy định mới giúp người tiêu dùng nhận biết rõ nguồn gốc sản phẩm, đồng thời tạo thêm động lực cho ngành chăn nuôi trong nước trước áp lực cạnh tranh từ thịt nhập khẩu.
Phân bón Cà Mau đồng hành đưa sầu riêng Đắk Lắk chạm kỷ lục Guinness thế giới

Phân bón Cà Mau đồng hành đưa sầu riêng Đắk Lắk chạm kỷ lục Guinness thế giới

Guinness World Records chính thức trao chứng nhận “Đoàn xe bán tải chở sầu riêng dài nhất thế giới” tại Lễ hội Sầu riêng Đắk Lắk 2026. Với sự tham gia của hơn 500 xe bán tải chở sầu riêng, kỷ lục tạo nên dấu ấn đặc biệt cho một ngành hàng đang ngày càng khẳng định vị thế trên thị trường nông sản.
Sầu riêng Việt Nam: Không mở rộng diện tích, chuyển trọng tâm sang chất lượng

Sầu riêng Việt Nam: Không mở rộng diện tích, chuyển trọng tâm sang chất lượng

Chính phủ yêu cầu các địa phương quản lý chặt diện tích sầu riêng, không tiếp tục mở rộng mà tập trung nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất. Cùng với việc triển khai Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP về đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, ngành sầu riêng đang được định hướng tổ chức lại theo hướng kiểm soát chặt chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển thị trường bền vững.
Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm nếu để ách tắc xuất khẩu sầu riêng

Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm nếu để ách tắc xuất khẩu sầu riêng

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng yêu cầu các địa phương không mở rộng diện tích sầu riêng, quản lý chặt mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và kiểm nghiệm; Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm nếu để xảy ra ách tắc ảnh hưởng đến xuất khẩu.
Sầu riêng xuất khẩu sang Trung Quốc phải truy xuất đến tận vùng trồng

Sầu riêng xuất khẩu sang Trung Quốc phải truy xuất đến tận vùng trồng

Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu tổ chức thực hiện truy xuất nguồn gốc bắt buộc đối với sầu riêng tươi xuất khẩu sang Trung Quốc, bảo đảm có thể truy xuất ngược đến vùng trồng, cơ sở đóng gói và các công đoạn liên quan.
Tp. Huế: Phường Dương Nỗ tăng cường liên kết sản xuất, phát triển nông nghiệp bền vững

Tp. Huế: Phường Dương Nỗ tăng cường liên kết sản xuất, phát triển nông nghiệp bền vững

Chiều 12/8/2026, UBND phường Dương Nỗ tổ chức Hội nghị triển khai các mô hình liên kết, hợp tác giữa chính quyền, doanh nghiệp, hợp tác xã (HTX) và người dân trên địa bàn. Đây được xem là bước cụ thể hóa định hướng tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị, nâng cao hiệu quả kinh tế và hướng tới phát triển bền vững.
Đồng Tháp siết quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói

Đồng Tháp siết quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói

UBND tỉnh Đồng Tháp yêu cầu rà soát, phân loại toàn bộ mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói còn hiệu lực; tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý các trường hợp vi phạm, sử dụng mã số không đúng quy định.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Hải Phòng: Triển khai xây dựng bản đồ ẩm thực số, thúc đẩy du lịch và kinh tế đêm

Hải Phòng: Triển khai xây dựng bản đồ ẩm thực số, thúc đẩy du lịch và kinh tế đêm

Thực hiện chủ trương phát triển kinh tế ban đêm và chuyển đổi số, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Phòng phối hợp với Công ty Cổ phần Foody - ShopeeFood triển khai xây dựng Bản đồ Ẩm thực số Hải Phòng, đồng thời thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, góp phần hiện đại hóa ngành dịch vụ của thành phố.
Nghệ An hoàn thành chuyển đổi 51 mã số vùng trồng, từng bước chuẩn hóa vùng nguyên liệu

Nghệ An hoàn thành chuyển đổi 51 mã số vùng trồng, từng bước chuẩn hóa vùng nguyên liệu

Kết quả chuyển đổi thành công mã số vùng trồng tại Nghệ An không chỉ khẳng định tính chủ động của địa phương mà còn là bước chuẩn bị kỹ lưỡng để sẵn sàng vận hành theo các quy định mới nhất về quản trị nông nghiệp số.
Rút ngắn thủ tục cấp mã số vùng trồng: Đồng bộ giải pháp số tạo bứt phá xuất khẩu nông sản

Rút ngắn thủ tục cấp mã số vùng trồng: Đồng bộ giải pháp số tạo bứt phá xuất khẩu nông sản

Sáng 4/8, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP của Chính phủ quy định về đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Hội nghị diễn ra theo hình thức kết hợp giữa trực tiếp tại trụ sở Bộ Nông nghiệp và Môi trường và trực tuyến tới hàng trăm điểm cầu trên khắp cả nước, kết nối từ UBND các tỉnh, thành phố đến tận UBND cấp xã, phường, cùng đại diện các hiệp hội ngành hàng và cộng đồng doanh nghiệp.
Đà Nẵng đề xuất nhiều giải pháp thúc đẩy tăng trưởng GRDP, phát triển nông nghiệp bền vững

Đà Nẵng đề xuất nhiều giải pháp thúc đẩy tăng trưởng GRDP, phát triển nông nghiệp bền vững

Đại biểu HĐND TP Đà Nẵng đề xuất nhiều giải pháp thúc đẩy tăng trưởng GRDP, phát triển nông nghiệp bền vững, chuyển đổi số và hoàn thiện hạ tầng tại các phiên thảo luận tổ.
Tp. Huế: Tổ chức Hội nghị tập huấn kỹ năng số cho Tổ Công nghệ số cộng đồng trên địa bàn xã A Lưới 1

Tp. Huế: Tổ chức Hội nghị tập huấn kỹ năng số cho Tổ Công nghệ số cộng đồng trên địa bàn xã A Lưới 1

Điểm nhấn của chương trình tập huấn là việc nâng cao kỹ năng tuyên truyền, hướng dẫn lại cho người dân tại các thôn, bản theo phương châm "cầm tay chỉ việc"...
Đắk Lắk triển khai chiến dịch cao điểm “30 ngày đêm” số hóa dữ liệu vùng trồng sầu riêng

Đắk Lắk triển khai chiến dịch cao điểm “30 ngày đêm” số hóa dữ liệu vùng trồng sầu riêng

UBND tỉnh Đắk Lắk vừa xây dựng dự thảo Kế hoạch triển khai chiến dịch cao điểm “30 ngày đêm” số hóa dữ liệu, chuẩn hóa, cập nhật và kết nối dữ liệu mã số vùng trồng sầu riêng, cơ sở đóng gói và kết nối Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản trên địa bàn tỉnh. Đây là giải pháp quan trọng nhằm tháo gỡ những khó khăn trong quản lý mã số vùng trồng, đẩy mạnh chuyển đổi số ngành nông nghiệp và nâng cao năng lực truy xuất nguồn gốc, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường xuất khẩu.
Tp.Huế tăng cường chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả quản lý bảo vệ rừng

Tp.Huế tăng cường chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả quản lý bảo vệ rừng

Chiều 23/7/2027, đồng chí Lê Văn Cường, Thành ủy viên, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Huế cùng đoàn công tác của Sở đã có buổi làm việc với Chi cục Kiểm lâm nhằm đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ, lắng nghe những khó khăn, vướng mắc từ cơ sở và định hướng các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trong thời gian tới.
Đà Nẵng: Thúc đẩy tiêu dùng hàng Việt từ chất lượng nông sản và chuyển đổi số

Đà Nẵng: Thúc đẩy tiêu dùng hàng Việt từ chất lượng nông sản và chuyển đổi số

Hội Nông dân TP. Đà Nẵng tổ chức tọa đàm thúc đẩy tiêu dùng hàng Việt, nâng cao chất lượng nông sản, phát triển OCOP và mở rộng đầu ra bằng chuyển đổi số.
Cần Thơ xây dựng hệ sinh thái dữ liệu số về khoa học và công nghệ

Cần Thơ xây dựng hệ sinh thái dữ liệu số về khoa học và công nghệ

Hoàn thiện hệ sinh thái dữ liệu số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và hình thành 3 không gian tri thức số là những nội dung trọng tâm trong Kế hoạch xây dựng và phát triển cơ sở dữ liệu số về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030 vừa được UBND TP. Cần Thơ ban hành.
Bắc Ninh: Hơn 11.000 hội viên nông dân được tập huấn công nghệ số

Bắc Ninh: Hơn 11.000 hội viên nông dân được tập huấn công nghệ số

Trong 6 tháng đầu năm 2026, các cấp Hội Nông dân tỉnh Bắc Ninh đã tạo ra bước đột phá trong việc nâng cao năng lực cho hơn 11.000 hội viên, nông dân thông qua các hoạt động tập huấn, phổ biến kiến thức về công nghệ số và kỹ năng số. Đây không chỉ là những con số về đào tạo, mà là minh chứng cho sự thay đổi tư duy mạnh mẽ từ sản xuất truyền thống sang canh tác hiện đại, tạo đà cho nông nghiệp Bắc Ninh hội nhập bền vững.
Mục tiêu tăng trưởng xanh, chuyển đổi số và phát triển nông nghiệp phát thải thấp

Mục tiêu tăng trưởng xanh, chuyển đổi số và phát triển nông nghiệp phát thải thấp

Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Kế hoạch khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026-2030, hướng tới tăng trưởng xanh, chuyển đổi số và phát triển nông nghiệp phát thải thấp.
Lâm Đồng: Quảng Trực ra mắt mô hình chuyển đổi số trong nông nghiệp

Lâm Đồng: Quảng Trực ra mắt mô hình chuyển đổi số trong nông nghiệp

Hội Nông dân xã Quảng Trực, tỉnh Lâm Đồng vừa tổ chức Lễ ra mắt mô hình “Tổ chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp tại bon Bu Lum”. Đây là hoạt động thiết thực nhằm triển khai thực hiện chỉ đạo của Đảng ủy và Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Quảng Trực về đẩy mạnh chuyển đổi số trong nông nghiệp, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị nông sản địa phương.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính