![]() |
| Việc nhận diện chính xác từng địa bàn khó khăn và đúng đối tượng cần trợ giúp, các nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước sẽ được sử dụng hiệu quả và đúng mục tiêu hơn. Đây sẽ là đòn bẩy quan trọng giúp đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi từng bước vươn lên thoát nghèo bền vững, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo đà cho sự phát triển kinh tế - xã hội đồng đều trên cả nước trong những năm tới |
Cơ sở từ kết quả phân định địa bàn mới
Theo Nghị định số 272/2025/NĐ-CP của Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã hoàn thành việc rà soát, phê duyệt danh sách các thôn, xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, phân định rõ thôn đặc biệt khó khăn cũng như các xã thuộc Khu vực I, II, III giai đoạn 2026 – 2030. Đây chính là căn cứ pháp lý quan trọng để Nhà nước xác định mức độ khó khăn, từ đó tập trung nguồn lực ưu tiên phát triển nhằm thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền.
Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều chính sách an sinh xã hội và hỗ trợ phát triển hiện hành lại lấy kết quả phân định địa bàn làm điều kiện tiên quyết để xác định đối tượng thụ hưởng. Khi danh sách và ranh giới các xã, thôn khó khăn có sự thay đổi sau đợt phân định mới, phạm vi địa bàn thụ hưởng cũng bị tác động theo. Điều này kéo theo sự biến động lớn về số lượng đối tượng và kinh phí thực hiện, đặc biệt là nguồn vốn sự nghiệp. Việc rà soát diện rộng là yêu cầu cấp thiết để tránh tình trạng phân bổ dàn trải hoặc bỏ sót đối tượng thụ hưởng.
Mục tiêu và phạm vi rà soát toàn diện
Công văn số 3324/BDTTG-VPQGDTMN nêu rõ, đợt rà soát này hướng tới việc tổng hợp đầy đủ tất cả các chính sách hỗ trợ trực tiếp bằng tiền, hiện vật, chi phí hay dịch vụ cho cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng dân cư. Đối tượng được kiểm tra bao gồm người dân tộc thiểu số, hộ nghèo, hộ cận nghèo, cán bộ, công chức, học sinh, sinh viên, phụ nữ và trẻ em đang sinh sống, làm việc tại khu vực này.
Đối với từng chính sách, các cơ quan chức năng phải làm rõ căn cứ pháp lý, hình thức hỗ trợ, mức hỗ trợ và kinh phí thực hiện trong hai năm 2025 – 2026. Đặc biệt, cần phân tích kỹ tác động của Nghị định 272/2025/NĐ-CP để xác định rõ: số lượng đối tượng tiếp tục được hưởng, số đối tượng phát sinh mới, số đối tượng dừng thụ hưởng và mức biến động nguồn ngân sách.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo lưu ý các đơn vị phải phân định rạch ròi giữa điều kiện hưởng theo địa bàn sinh sống với điều kiện hưởng theo đặc điểm cá nhân, hộ gia đình để tránh trùng lặp. Đồng thời, các địa phương được khuyến khích đề xuất mô hình thiết kế chính sách mới linh hoạt hơn, có thể thu hẹp phạm vi thụ hưởng xuống cấp thôn hoặc áp dụng tiêu chí đặc thù nhằm bảo đảm tính khả thi và đúng trọng tâm.
Tiến độ triển khai và trách nhiệm của các cơ quan
Để bảo đảm tiến độ trình cấp có thẩm quyền xem xét, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đề nghị các Bộ, cơ quan ngang Bộ rà soát lại các văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực phụ trách, từ đó chủ động xây dựng kế hoạch điều chỉnh hoặc ban hành quy định chuyển tiếp giai đoạn 2026 – 2030. UBND các tỉnh, thành phố có trách nhiệm chỉ đạo các sở, ngành chuyên môn và chính quyền cấp xã đối chiếu thực tế địa phương, lập báo cáo tổng hợp chi tiết. Tất cả kết quả rà soát phải gửi về Bộ Dân tộc và Tôn giáo trước ngày 20/11/2026.
Việc chủ động rà soát, đánh giá lại các chính sách trước bước ngoặt của giai đoạn phát triển 2026 – 2030 không chỉ thể hiện tinh thần trách nhiệm, kỷ cương trong quản lý ngân sách nhà nước mà còn mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Bằng việc nhận diện chính xác từng địa bàn khó khăn và đúng đối tượng cần trợ giúp, các nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước sẽ được sử dụng hiệu quả và đúng mục tiêu hơn. Đây sẽ là đòn bẩy quan trọng giúp đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi từng bước vươn lên thoát nghèo bền vững, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo đà cho sự phát triển kinh tế - xã hội đồng đều trên cả nước trong những năm tới./.